Giới thiệu

 

Bài viết này nhằm giới thiệu về kinh tế học thể chế mới, một lĩnh vực nghiên cứu đã và đang thu hút được sự quan tâm của rất nhiều kinh tế gia nổi tiếng thế giới. Để có một cái nhìn toàn diện về lĩnh vực này, thông qua việc phát triển từ kinh tế học thể chế cũ, đầu tiên chúng ta phải hiểu kinh tế học thể chế là lĩnh vực như thế nào, tại sao nó tồn tại và được xây dựng nhằm giải thích những gì. Sau khi đã hiểu được những nền tảng cơ bản này, việc lật lại xem kinh tế thể chế cũ đã làm được những gì, tồn tại những khiếm khuyết gì và tại sao nó thất bại trong việc giải thích chúng cũng quan trọng không kém. Tiếp đến, kinh tế học thể chế mới được xây dựng đã vượt trội hơn như thế nào trong việc giải quyết các khiếm khuyết trên. Bài viết mặc dù chưa đưa ra được những triển vọng cho lĩnh vực này, tuy nhiên thông qua rất nhiều mảng nghiên cứu vẫn đang được đào sâu khám phá, chúng ta vẫn có quyền đặt niềm tin rằng sự phát triển của nó trong tương lai sẽ đóng góp một phần không nhỏ cho kinh tế học trong tương lai sắp tới.

 

Nhắc lại về kinh tế học thể chế cũ

 

Ý tưởng chủ đạo của kinh tế học thể chế cũ liên quan đến những thể chế nói chung, những thói quen, luật lệ và sự phát triển của chúng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu về lĩnh vực này không chỉ cố gắng xây dựng một mô hình chung đơn thuần dựa trên những nền tảng đó. Trái lại, chính những thói quen, luật lệ và sự phát triển của chúng tạo nên những thể chế khác nhau, và những thể chế này tạo điều kiện cho những nhà nghiên cứu có thêm công cụ nhằm tiếp cận và giải thích cụ thể các nền kinh tế khác nhau cũng như cách vận hành của chúng.

Ngược lại, kinh tế học tân cổ điển lại bắt đầu từ một khuôn khổ lý thuyết chung, dựa trên những giả định về sự lựa chọn và hành vi duy lý của con người để giải thích những lý thuyết về giá cả và sự vận động của thị trường trong nền kinh tế. Đây chính là sự khác biệt quan trọng nhất giữa kinh tế học thể chế cũ và kinh tế học tân cổ điển.Một cách cụ thể, những nhà kinh tế học thể chế cũ tập trung vào việc chuyển thể những điều mơ hồ thành những điều cụ thể. Thay vì xây dựng một nền tảng lý thuyết chung giống như kinh tế học tân cổ điển, kinh tế học thể chế cũ lại sử dụng những lý thuyết về tâm lý học, nhân loại học, xã hội học hay những môn khoa học khác nhằm giải thích hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế.

Hodgson (1998) đưa ra một ví dụ điển hình về lý thuyết giá cả. Kinh tế học tân cổ điển xây dựng và tin tưởng vào những lý thuyết phổ quát về cung, cầu và mức thỏa dụng biên; theo đó giá cả được quyết định trên thị trường dựa trên hành vi duy lý của những tác nhân trong thị trường đó sẽ phản ánh đúng giá trị. Tuy nhiên, kinh tế học thể chế cũ lại có cách nhìn khác, giá cả là sự thỏa thuận ngầm trong xã hội, được giữ vững và thúc đẩy bởi những thói quen của con người và tồn tại trong những thể chế nhất định. Trước hết nhằm giải thích sự hình thành nên giá cả, những nhà nghiên cứu đầu tiên về thể chế quan tâm đến thể chế chung trong thị trường của hàng hóa đó. Toàn bộ những khía cạnh liên quan đến thể chế đó đều được sử dụng để giải thích cho sự hình thành nên giá cả. Những câu hỏi được đặt ra như: những thói quen nào tác động nên sự tính toán về giá cả, những thông tin nào được dùng để định giá hàng hóa đó, những thông tin nào còn là ẩn số, những thông tin đó được thu thập và xử lý dựa trên những thói quen nào, những thói quen nào giúp các chủ thể kinh tế có thể điều chỉnh giá cả về một mức nhất định khi thị trường cân bằng. Tất cả những câu hỏi này đều có thể được giải thích dựa những giả định của kinh tế học tân cổ điển, trong khi kinh tế học thể chế cũ lại tìm cách giải thích mà không trốn tránh nó.

 

Về cơ bản, cách tiếp cận của kinh tế học thể chế cũ là tìm ra mối quan hệ tương tác giữa các thể chế và các chủ thể kinh tế trong đó. Như mô tả trong hình 1, các thể chế thiết lập nên các thói quen và luật lệ trong nó, qua đó các chủ thể kinh tế áp dụng những thói quen và luật lệ này tác động ngược lại các thể chế mà họ đang sống trong đó. Thậm chí thông qua những thói quen và luật lệ chung trong xã hội, các chủ thể kinh tế hoàn toàn có thể thành lập nên những thể chế mới. Như vậy, có thể nói họ đồng thời vừa là những người tạo ra thể chế, vừa là sản phẩm của chính những thể chế đó.

 

Bốn cấp độ của thể chế

 

Một điều thực sự quan trọng khi nghiên cứu về thể chế chính là cần phải tìm hiểu xem các thể chế được phân chia như thế nào. Có thể nói sự phân chia rõ ràng và cụ thể nhất được đưa ra bởi Williamson (1998). Theo Williamson thì có bốn cấp độ thể chế được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp như trong hình 2. Mũi tên liền thể hiện rằng các các thể chế ở cấp độ cao hơn áp đặt hạn chế, trong khi mũi tên đứt lại thể hiện sự phản hồi từ các thể chế ở cấp độ thấp hơn.

 

Sự gắn kết (Embeddedness).Đây là cấp độ cao nhất trong hệ thống cấp bậc thể chế bao gồm các thể chế phi chính thức, tập tục, truyền thống, đạo đức và các quy tắc xã hội, tôn giáo và đồng thời cũng có thể là những khía cạnh về ngôn ngữ và sự nhận thức. Cấp độ này cung cấp những nền tảng cơ bản cho một thể chế xã hội. Những thể chế xã hội văn hóa này thay đổi rất chậm theo thời gian, thời gian tồn tại/thích ứng có thể dài hàng nghìn năm và không ngắn hơn một trăm năm. North (1991, p. 111, trích dẫn bởi Williamson) đã đặt ra câu hỏi “Từ đâu mà những sự áp đặt không chính thức lại có sức ảnh hưởng lan tỏa lên những đặc tính trong dài hạn của nền kinh tế?” Câu hỏi này hiện nay vẫn chưa có câu trả lời, tuy nhiên bất kể như vậy, vẫn tồn tại rất nhiều thể chế ở cấp độ thấp được thiết kế và xây dựng nhằm bảo vệ các thể chế ở cấp độ cao nhất này.

 

   

 

Môi trường thể chế (Institutional Enviroment).Cấp độ này được Williamson gọi là “những quy tắc chính thức của cuộc chơi” (formal rules of the game). Ở cấp độ này xã hội chứng kiến sự hình thành nên những quy tắc chính trị, luật pháp hay hành chính. Kinh tế hóa bậc 1 (sự hiệu quả được tạo ra nhờ tinh giản quá trình tổ chức) được hình thành tại đây. Sự thay đổi trong môi trường thể chế diễn ra nhanh hơn so với sự thay đổi ở cấp độ thể chế thứ nhất. Tuy nhiên sự thay đổi này vẫn tương đối chậm một phần bởi sự tác động của các nền tảng văn hóa và xã hội cơ bản, với thời gian tồn tại trong khoảng 10 đến 100 năm.

 

Các thể chế quản trị (Institutions of Governance). Ở cấp độ này, cuộc chơi bắt đầu được vận hành (play of the game) trong một môi trường thể chế đã được xác định. Thông qua hợp đồng, các giao dịch hàng hóa, dịch vụ cá nhân cũng như lao động được xác định.Cấu trúc của hợp đồng hay các mối quan hệ giao dịch, cấu trúc theo chiều dọc và chiều ngang của các hãng kinh doanh,ranhgiớigiữacácgiao dịchnội bộtrung gianvànhữngtrung gianthông quathị trường, quản trị doanh nghiệp,tổ chức tài chínhhỗ trợđầu tư tư nhânvàtíndụng, cũng đều được xác địnhở cấp độ này. Ngoài ra, kinh tế hóa bậc 2 (phân bổ lợi ích thu được từ kinh tế hóa bậc 1) được áp dụng tại cấp bậc này. Việc sắp xếp những cơ chế quản trịcó thể bị ảnh hưởng nhiềubởimôi trường thể chếcũng nhưcácđiều kiện kinh tếcơ bản của một quốc gia(ví dụ như nguồn lựctài nguyên thiên nhiên) tạibất kỳ thời điểm nào. Sự thay đổi thể chế trong cấp độ này cũng diễn ra nhanh hơn, mà theo Williamsonthì khung thời gian ưa thích cho sự thay đổi này là từ 1 đến 10 năm.

 

Việc làm và sự phân bổ nguồn lực (Resource Allocation and Employment). Cấp độ này được để cập đến sự vận động liên tục của nền kinh và được xác định bởi ba cấp độ trên. Sự phân tích mang tính cấu trúc riêng lẻ được thay thế bởi những điều kiện cận biên. Đây chính là cơ sở cho kinh tế học tân cổ điển cùng lý thuyết đại diện được hình thành. Giá cả và sản lượng, những biến số cơ bản của kinh tế học tân cổ điển, cũng như những rủi ro trong lý thuyết đại diện đều được xác định tại đây. Sự điều chỉnh các biến số này được thực hiện liên tục thông qua phản ánh lại những điều kiện của thị trường, tạo nên sự kinh tế hóa bậc 3 (third-order economizing).

 

Kinh tế học thể chế mới

 

Ngày nay cụm từ kinh tế học thể chế mới xuất hiện rộng rãi và phổ biến trong rất nhiều những bài nghiên cứu cũng như những bài báo về kinh tế. Đây có thể được coi là một nhánh nghiên cứu nhằm mở rộng thêm kinh tế học hiện đại thông qua việc tập trung vào những thể chế xã hội nằm sâu bên trong những hoạt động kinh tế được xây dựng trong kinh tế học tân cổ điển. Tuy nhiên, khác với những sự cố gắng trước đó nhằm lật đổ hoặc thay thế lý thuyết kinh tế học tân cổ điển, kinh tế học thể chế mới lại xây dựng trên, thay đổi và mở rộng những lý thuyết đó với hy vọng lật lại những vấn đề trước đó đồng thời cố gắng giải thích thêm những vấn đề chưa có lời giải đáp vẫn còn tồn tại trong kinh tế học.

Đầu tiên, nhắc đến kinh tế học thể chế mới, với một nhà nghiên cứu hoặc một người quan tâm đến kinh tế học nói chung, khi đã có một mức độ hiểu biết nhất định về “kinh tế học” và “thể chế”, thì một câu hỏi đơn giản được đặt ra là tại sao nhánh nghiên cứu này lại “mới”. Tại sao lại có sự xuất hiện của kinh tế học thể chế mới khi đã có một môn nghiên cứu về kinh tế học thể chế được xây dựng trước đó? Kinh tế học thể chế cũ hiện nay đang ở đâu? Và nhánh nghiên cứu mới này là một sự mở rộng hay là một sự cố gắng viết lại toàn bộ kinh tế học thể chế?

 

Sẽ là không công bằng khi nói rằng kinh tế học thể chế cũ đã hoàn toàn bị bỏ quên cùng với sự phát triển của kinh tế học thể chế mới. Nếu như đọc các bài viết về kinh tế học thể chế mới, có thể dễ dàng nhận thấy rằng những nhà kinh tế gia sau này vẫn thường xuyên nhắc lại những người tiền nhiệm của mình như Thorstein Veblen, John Commons hay Wesley Michell cùng các công trình của họ, như một nền móng đầu tiên cho kinh tế học thể chế. Kinh tế học thể chế cũ thực sự thịnh hành và có một vị trí quan trọng trong bộ môn kinh tế học tại các trường đại học ở Mỹ ngay trước chiến tranh thế giới thứ nhất. Kỳ thực, theo như Hodgson (1998) thì tính từ “mới” được đưa vào chỉ để nhằm phân biệt giữa hai nhánh nghiên cứu nói trên. Hodgson chỉ ra hai lý do dẫn đến sự ra đời của sự phân biệt này. Thứ nhất, kinh tế học thể chế cũ, một môn học xuất phát từ Mỹ, thường chỉ chú trọng vào những thể chế của riêng Mỹ. Chính vì vậy, cùng với sự phát triển chung, kinh tế học thể chế cũng cần phải được phát triển để giải thích cho thể chế tại các quốc gia và khu vực khác. Thứ hai, cuộc Đại khủng hoảng vào thập niên 30 với sự suy giảm của nền kinh tế Mỹ đã đặt ra một nhu cầu về việc xây dựng những lý thuyết mới nhằm có một cách tiếp cận mới thực tế và có tính hệ thống hơn. Hai lý do này là sự khởi đầu cho những nghiên cứu mới về thể chế, là khởi nguồn của kinh tế học thể chế mới. Như vậy, có thể nói kinh tế học thể chế mới không phải là một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới, nó chỉ dựa trên những nghiên cứu trước đó của những nhà kinh tế học tiền nhiệm, tiếp tục và xây dựng thêm những lý thuyết của kinh tế học thể chế, kết hợp cùng những giả định và kết quả của kinh tế học tân cổ điển nhằm đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn.

 

Nếu như kinh tế học thể chế cũ được bắt đầu từ Mỹ, với việc nghiên cứu về các thể chế của quốc gia này, tức là ngầm mặc định rằng đã tồn tại các thể chế này, thì kinh tế học thể chế mới không như vậy. Nhằm giải thích cụ thể sự khác biệt giữa kinh tế học thể chế cũ và kinh tế học thể chế mới, chúng ta quay lại hình 1. Có thể thấy kinh tế học thể chế mới vẫn tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ tương tác qua lại giữa các thể chế và các chủ thể kinh tế, tuy nhiên sự khác biệt chính là việc toàn bộ các quá trình này được đặt trong một mô hình với giả định hành vi duy lý của các cá nhân được xây dựng trong kinh tế học tân cổ điển.Và điểm bắt đầu cho vấn đề này chính là việc giả định một xã hội không có thể chế, và những con người đã được xác định từ trước bắt đầu hình thành nên thể chế của mình.

 

Tuy nhiên, vấn đề đầu tiên mắc phải của kinh tế học thể chế mới, theo sự tổng hợp của Hodgson (1998) chính là để giải thích việc những con người như thế hình thành nên thể chế, nhất thiết phải có một số những khuôn khổ giả định nên sự tương tác giữa họ. Vậy những khuôn khổ đó có phải là thể chế, có phải thể chế đã tác động lên con người trước? Hodgson cho rằng chúng ta đang quay trở lại câu hỏi “Quả trứng và con gà, cái nào có trước?” Và thay vì cố gắng tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi đó, ông đặt một câu hỏi khác “Những quá trình nào giải thích sự phát triển của cả hai?” Câu hỏi mới này sẽ chuyển hướng nghiên cứu sang một khuôn khổ phân tích không bị hạn chế như trước.

 

            Coi như chúng ta đã giải quyết được vấn đề đầu tiên, vậy vấn đề cần tìm hiểu thứ hai là kinh tế học thể chế mới làm thế nào kết hợp được với lý thuyết tân cổ điển? Tất nhiên là nó phải bắt đầu từ những đặc điểm cốt lõi của kinh tế học tân cổ điển, tức là sự khan hiếm và cạnh tranh. Dưới cách nhìn của kinh tế học thể chế mới, kinh tế học là một môn khoa học lý thuyết về sự lựa chọn. Nó áp dụng lý thuyết giá cả như một phần của sự phân tích về thể chế, và nhìn nhận sự thay đổi trong quan hệ giá cả như một động lực chính tạo nên sự thay đổi thể chế.

 

            Vậy cách tiếp cận này thay đổi và mở rộng lý thuyết tân cổ điển như thế nào? Theo như North (1990) thì bên cạnh việc thay đổi những định đề về duy lý, nó còn tạo thêm những thể chế và phân tích vai trò của chi phí giao dịch như một sự kết hợp giữa những thể chế và chi phí sản xuất. Nó mở rộng lý thuyết kinh tế bởi sự kết hợp giữa những ý tưởng và hệ tư tưởng vào trong phân tích, mô hình hóa những chu trình chính trị như một nhân tố quan trọng trong hiệu năng của nền kinh tế, và đồng thời cũng góp phần giải thích cho những thị trường không hiệu quả.

 

            Sự giải thích cho những thị trường kém hiệu quả được xem là đóng góp quan trọng nhất của kinh tế học thể chế mới vào kinh tế học tân cổ điển. Sở dĩ kinh tế học tân cổ điển chưa thể giải thích được, theo như Coase (1960), chính bởi những giả định trong lý thuyết tân cổ điển không đề cập đến chi phí giao dịch. Nếu như không có chi phí giao dịch hoặc chi phí giao dịch bằng không, các thị trường sẽ hoạt động hiệu quả bất chấpsự có mặt của các thể chế. Hoặc nếu như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, một trong những bài học đầu tiên của kinh tế học tân cổ điển, cạnh tranh thông qua trao đổi mua bán và sự phản hồi thông tin mang tính duy lý sẽ dần dần làm giảm chi phí giao dịch trong lý thuyết của Coase xuống xấp xỉ không.

 

            Tuy nhiên trong thực tế dĩ nhiên là không tồn tại một thị trường như thế. Những hạn chế về thông tin, được tạo nên bởi thể chế, là điều không thể tránh khỏi. Và điều này làm cho chi phí giao dịch tồn tại và không thể được bỏ qua. Theo như North, thì những thể chế thông thường không hình thành để mang lại hiệu quả chung cho xã hội; đúng hơn là chúng được tạo ra để phục vụ cho quyền lợi của những người có quyền lực thương lượng cao hơn những người khác. Trong một thế giới mà chi phí giao dịch bằng không, sức mạnh thương lượng không tác động đến kết quả; nhưng trong một thế giới tồn tại chi phí giao dịch nó thực sự tác động, và do đó nó định hình phương hướng thay đổi kinh tế trong dài hạn.

 

            Sự tồn tại của chi phí giao dịch là nền tảng của những lý thuyết kinh tế học về vấn đề này, và là một phần của kinh tế học thể chế mới. Do tồn tại rất nhiều giao dịch khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của chúng, kinh tế học về chi phí giao dịch đặt ra rất nhiều giả thuyết mâu thuẫn. Nhìn vào giản đồ hợp đồng được Williamson (2000) mô tả trong hình 3, có thể hiểu được phần nào về bức tranh toàn cảnh của lĩnh vực kinh tế học này. Trong giản đồ này, h đại diện cho rủi ro (hazard), s đại diện cho cơ chế bảo vệ (safeguard). Điểm A đại diện cho giao dịch trong một thị trường “lý tưởng”, không có rủi ro (h >0) hay giao dịch có được cơ chế bảo vệ từ cạnh tranh trên thị trường. Theo hướng ngược lại, khi rủi ro tồn tại, có thể cơ chế bảo vệ không được đưa ra (s = 0). Khi đó, có thể dẫn đến điểm B, tại đây những rủi ro đi kèm với lợi nhuận nhờ chênh lệch thường sẽ được nhận ra bởi những nhà đầu cơ có tầm nhìn xa. Khi giao dịch bắt đầu có cơ chế bảo vệ, sẽ có hai trường hợp, hoặc là tiến đến thỏa thuận thông qua cơ chế hợp đồng (điểm C), ví dụ như cam kết bảo đảm, hoặc là thông qua các thủ tục hành chính và các bên tiến tới hợp nhất (điểm D). Các điểm A, B, C, D chỉ mang ý nghĩa điển hình, còn tất cả các điểm khác trên giản đồ đều được gắn với các giao dịch khác nhau. Nhiệm vụ của kinh tế học về chi phí giao dịch chính là xác định các cơ chế quản trị cùng các chi phí diễn ra trong từng trường hợp.

 

 

Thực sự hiếm trong việc tìm kiếm những thị trường mang đặc thù kinh tế thỏa mãn những điều kiện tạo nên sự hiệu quả. Và thực sự không thể nào tìm kiếm một thị trường mang đặc thù chính trị nào như thế, bởi vì thể chế chính trị sẽ định nghĩa và thi hành quyền tài sản, tác động trực tiếp lên thị trường. Hơn nữa một khi có một nền kinh tế đang ở trạng thái không hiệu quả và tạo ra sự đình trệ nó có thể tiếp tục tồn tại  (và tồn tại lâu dài) bởi sự phụ thuộc của nó vào các thể chế chính trị.

 

Trạng thái phụ thuộc vào thể chế tồn tại bởi những hiệu ứng ngoại biên, hiệu quả nhờ quy mô, và những liên kết tồn tại trong một ma trận thể chế định sẵn. Tuy nhiên, sự tác động của những thể chế không đơn giản sẽ mang lại sự phát triển mà đôi khi nó còn mang đến sự thất bại của nền kinh tế (như trường hợp của Argentina, từ tăng trưởng đến đình trệ trong nửa thế kỷ trở lại đây). Phải thừa nhận rằng chúng ta còn biết quá ít về mối quan hệ cũng như sự tác động giữa thể chế và sự phát triển của thị trường cũng như của nền kinh tế. Kinh tế học thể chế mới vẫn đang tiếp tục phát triển với rất nhiều mảng nghiên cứu khác nhau như chi phí giao dịch, quyền tài sản (property rights), phương thức cai trị (modes of governance), những quy tắc xã hội (social norms) hay thông tin bất cân xứng (asymmetric information)… Chúng ta hy vọng rằng sự phát triển của kinh tế học thể chế mới sẽ góp phần giải thích về sự tác động của những thể chế vào nền kinh tế cũng như tìm ra các phương pháp khắc phục nó.

 

Như vậy, vẫn tương đối là một nhánh khoa học mới, kinh tế học thể chế mới chưa thực sự tồn tại dưới dạng một lý thuyết tổng thể. Thay vào đó, nó vẫn còn ở giai đoạn khám phá và phát triển, cố gắng tìm hiểu những thứ sâu xa hơn của thể chế và áp dụng vào kinh tế học. Williamson (2000) nhấn mạnh rằng mức độ thừa nhận của kinh tế học thể chế mới trong làng kinh tế đã phát triển một cách ngoạn mục qua những thập kỷ gần đây, đồng thờiông cũng dự đoán rằng nó sẽ trở thành “cái vạc sôi của những ý tưởng” trong tương lai sáng lạn sắp tới.

 

Tài liệu tham khảo

 

Coase, R. (1998), “The New Institutional Economics”, The American Economic Review, Vol. 88, No.2, Papers and Proceeding of the Hundred and Tenth Annual Meeting of the American Economic Association. (May, 1998), pp. 72-74.

Hodgson, G.M. (1998), “The New Approach of Institutional Economics”, Journal of Economics Literature, Vol. XXXVI (March 1998), pp. 166-192.

North, D. (1990), “Institutions, Institutional Change and Economic Performance”, Cambridge University Press

Williamson, O.E. (1998), “Transaction Cost Economics: How It Works; Where It Is Headed”, De Economist, 146:1, pp. 23-58

________ (2000), “The New Institutional Econmics: Taking Stock, Looking Ahead”,Journal of Economic Literature, Vol. 38 n3 (2000), pp.595-603.