Là một nước đang phát triển, Việt Nam đã tiếp nhận nguồn vốn ODA bắt đầu từ năm 1993 trở lại đây. Tính tới hết năm 2017, cả nước đã có 2.594 dự án, chương trình vay vốn ODA, vốn vay ưu đãi. Điều này đã cho thấy tầm quan trọng của nguồn vốn này trong sự phát triển của Việt Nam trong thời gian qua.

Chỉ chiếm chưa tới 3% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội nhưng vốn ODA đang được coi là nguồn vốn bổ trợ quan trọng cho nền kinh tế nhờ những điều kiện ưu đãi của nó như lãi suất cho vay thấp - dưới 3%/năm (Nhật Bản cho vay lãi suất từ 0,4-1,2%; Hàn Quốc lãi suất từ 0-2%...); thời hạn ân hạn dài (trên năm năm) và lĩnh vực cho vay chú trọng tới cải thiện cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế.

Cũng nhờ dòng vốn trên, nhiều công trình cơ sở hạ tầng đã được xây dựng, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng của Việt Nam như tuyến cầu Nhật Tân, nhà ga quốc tế Nội Bài, tuyến đường sắt đô thị tại TPHCM, Hà Nội...

Tuy nhiên, do những tư tưởng coi đây là “nguồn viện trợ”, chất lượng sử dụng nguồn vốn trên còn nhiều điểm đáng lưu tâm.

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính tới hết năm 2017, tổng vốn ODA Việt Nam ký vay đã đạt 600.000 tỉ đồng, vượt trần 300.000 tỉ đồng được Quốc hội phê duyệt (theo kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020). Bên cạnh đó, nhiều dự án, công trình sử dụng vốn vay ODA đã bị đội vốn do nhiều nguyên nhân, trong đó hai nguyên nhân chính là do chậm trễ và tham nhũng.

Tại hội nghị thúc đẩy giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam mới đây, ông Rustam Ishenaliev, Trưởng phòng quản lý dự án Văn phòng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho biết các dự án sẽ phải mất khoảng tám tháng để được ký kết, bên cạnh đó việc giải phóng mặt bằng, tiến hành xây dựng cũng liên tục bị chậm trễ. Những sự chậm trễ này đã khiến cho chi phí bị đội lên. Theo tính toán của ADB, dự án kéo dài thêm một năm thì sẽ tăng thêm 17,6% kinh phí, nếu kéo dài thêm hai năm thì có thể tăng thêm tới 50% kinh phí.

Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2011-2016, nguồn vốn ODA liên tục chậm trễ trong giải ngân, khiến số vốn chưa giải ngân được trong năm tài khóa ngày càng tăng cao, dẫn tới những rủi ro về tỷ giá và công nghệ.

Không chỉ chậm trễ, các vấn đề về tham nhũng trong xây dựng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ và chi phí xây dựng các dự án. Thực tế cho thấy các nghi ngại về tham nhũng đã được bàn tới từ nhiều năm qua, dấy lên sự nghi ngờ của các nhà tài trợ như dự án cầu Nhật Tân, nhiều nhà thầu của Nhật Bản đã đặt dấu chấm hỏi về chi phí ngoài phát sinh trong quá trình xây dựng.

ODA là nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Việc cắt giảm ODA không thể diễn ra một sớm một chiều. Do đó, bài toán đặt ra hiện nay là cần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.

Trước hết, cần khắc phục tình trạng chậm trễ trong xây dựng. Để đạt được điều này, các cơ quan có chức năng giám sát cần làm rõ sự chậm trễ ở khâu nào. Hiện nay, chậm trễ chủ yếu diễn ra ở khâu ký kết hợp đồng, giải phóng mặt bằng. Do đó, cần đẩy nhanh quá trình ký kết hợp đồng, có tính toán tới phương án giải phóng mặt bằng trong dự toán, đưa ra thời gian cụ thể, hợp lý.

Sự thiếu sót các hạng mục thực thi cũng khiến cho quá trình thực hiện dự án bị ảnh hưởng. Vì vậy, cách thức lựa chọn các nhà tư vấn dự án cũng có vai trò rất quan trọng. Cần lựa chọn các nhà tư vấn độc lập, có năng lực đáng tin cậy. Trong trường hợp xảy ra thiếu sót, cần quy trách nhiệm cho từng chủ thể.

Đặc biệt, sự chậm trễ của các dự án còn do thực tế cấp phát vốn của Nhà nước. Theo đó, mỗi năm ngân sách nhà nước sẽ cấp phát vốn cho các chủ đầu tư dự án, từ đó xảy ra cơ chế xin - cho, sự ỷ lại của các chủ đầu tư và sự chậm trễ do phê duyệt.

Giải pháp cần kíp nhất hiện nay là thay đổi phương thức giải ngân vốn của các dự án vay vốn ODA. Trước hết, cần chấm dứt tình trạng cấp phát vốn hàng năm từ ngân sách nhà nước, thay thế bằng biện pháp cho vay lại của Nhà nước. Theo đó, các chủ đầu tư sẽ được vay vốn ưu đãi từ dòng vốn ODA được tài trợ cho Chính phủ. Như vậy, trách nhiệm sử dụng dòng vốn sẽ được trao cho các chủ đầu tư, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Ngoài ra, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hiệu quả sử dụng vốn ODA giai đoạn 2011-2015, chủ yếu các dự án đầu tư hiện nay là vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng phần cứng, bao gồm xây dựng cầu đường, các công trình thủy lợi... mà chưa chú trọng với các ngành cơ sở hạ tầng mềm như nông nghiệp, giáo dục, y tế. Do đó, cần thay đổi dòng vốn đầu tư từ ODA, chú trọng hơn tới các lĩnh vực cơ sở hạ tầng mềm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, để tránh tình trạng lãng phí nguồn vốn, cần xây dựng cụ thể bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của các dự án cơ sở hạ tầng mềm.

Bên cạnh những quy định cụ thể về sử dụng nguồn vốn, Việt Nam cần phân rõ trách nhiệm của từng bên tham gia thực hiện các dự án sử dụng vốn vay ODA và có những chế tài công khai, thích đáng đối với những chủ thể gây ra đội vốn trong công trình.

Cuối cùng, Việt Nam cũng cần chú trọng cải thiện, tinh gọn bộ máy nhà nước, giảm thiểu tệ nạn tham nhũng trong các dự án đầu tư, giúp giảm chi phí và thời gian thực hiện các dự án sử dụng vốn vay ODA.