Giới thiệu

 

Bài viết này nhằm giới thiệu hạt nhân cuối cùng trong nền tảng lý thuyết cơ bản của kinh tế học thể chế mới. Sau khi đã hình thành được những giả thuyết bước đầu về hành vi con người cũng như xây dựng nên đơn vị phân tích cơ bản của kinh tế học thể chế mới, việc giải thích quá trình hình thành các hiện tượng kinh tế sẽ trở thành chân kiềng thứ ba góp phần hoàn chỉnh hệ thống lý thuyết cho lĩnh vực này. Trong một thế giới liên tục vận động và phát triển, những vấn đề bất trắc và rủi ro đến từ môi trường xung quanh được thừa nhận như một sự tồn tại tất yếu. Thông qua đó, con người xây dựng nên một cơ chế học hỏi (learning mechanism) nhằm đương đầu với những vấn đề này. Sau khi xây dựng nên cơ chế này, con người bắt đầu giải thích nên những hiện tượng kinh tế. Khác với việc tham chiếu đến điểm cân bằng lý tưởng như trong kinh tế học tân cổ điển, cách nhìn của các nhà kinh tế học thể chế mới lại xem sự hình thành nên các hiện tượng kinh tế như là kết quả của trạng thái đa cân bằng (multi-equlibria) đồng thời xây dựng nên phương pháp nghiên cứu riêng và chủ đạo cho mình.

 

 Tính bất trắc của môi trường xung quanh

 

Những lý thuyết về kinh tế học được xây dựng nhằm mục đích khám phá sự hiệu quả trong việc phân bổ các nguồn lực cho nền kinh tế. Để làm được điều này, đã xuất hiện rất nhiều trường phái kinh tế khác nhau được xây dựng trong một vài thế kỷ trở lại đây, trong đó nổi bật nhất chính là kinh tế học tân cổ điển được giảng dạy phổ biến tại các trường đại học ngày nay. Tuy nhiên, kinh tế học tân cổ điển lại dựa trên quá nhiều những giả định mang tính chuẩn tắc về thông tin hoàn hảo và tư duy duy lý không bị bó buộc của con người, cũng như việc giao dịch giữa các cá nhân hay tổ chức diễn ra hoàn hảo và không có chi phí đi kèm hoặc không đáng kể và được bỏ qua. Tuy nhiên, những giả định này thường không thể đứng vững trong một thế giới liên tục thay đổi và phát triển. Trong thế giới đó, việc xảy ra những bất trắc và rủi ro là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra không lường trước được nhưng lại thường xuyên được các nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển bỏ qua bởi những giả định của mình. Chính vì thế, sự hình thành của kinh tế học thể chế như một nhánh nghiên cứu nhằm bổ sung và giải thích thêm, không trốn tránh những bất trắc và rủi ro trong một thế giới vận động và phát triển liên tục được xem như một điều tất yếu và cần thiết.

 

Sự bất trắc của môi trường trong kinh tế học tồn tại như một điều hiển nhiên và các nhà kinh tế học phải xây dựng lý thuyết cùng với việc thừa nhận nó. Trước tiên, để tìm hiểu về tính bất trắc (uncertainty), chúng ta phải có một định nghĩa cơ bản về nó. Theo đó, tính bất trắc có thể hiểu là sự giới hạn về tri thức khiến không thể giải thích được những hiện tượng và kết quả trong tương lai. Cụ thể tại sao sự giới hạn về tri thức lại dẫn đến sự bất trắc sẽ được giải thích cụ thể hơn trong phần nói về cơ chế học hỏi bên dưới.

 

Tiếp đến, chúng ta cần có một sự phân tách những bất trắc khác nhau có thể xảy ra trong nền kinh tế. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ phân chia làm hai loại bất trắc điển hình nhất, đó là bất trắc mang tính cấu trúc (structural uncertainty) và bất trắc mang tính chiến lược (strategic uncertainty). Sự phân loại này được định nghĩa và giải thích rất rõ ràng bởi Slembeck (1998). Theo Slembeck, bất trắc mang tính cấu trúc xảy ra khi các chủ thể không có đầy đủ thông tin về môi trường xung quanh và cấu trúc của nó. Trong khi đó, bất trắc mang tính chiến lược lại xảy ra do sự tương tác và lựa chọn giữa các cá nhân. Slembeck cho rằng các cá nhân hành xử và giao dịch dựa trên kỳ vọng về hành vi của các cá nhân khác, thường được gọi là sự tin tưởng. Và do đó bất trắc mang tính chiến lược xảy ra khi có sự không đồng nhất về niềm tin giữa các cá nhân trong sự tương tác lẫn nhau.

 

Cơ chế học hỏi cá nhân

 

Việc đối phó với những bất trắc của môi trường dựa trên sự tìm hiểu và giải thích về các thể chế và tác động của nó trong nền kinh tế chính là những vấn đề mà kinh tế học thể chế mới cần phải giải quyết. Như đã nói ở trên, sự bất trắc tồn tại do sự giới hạn về tri thức của các cá nhân. Tuy nhiên, sự giới hạn này hoàn toàn có thể được cải thiện do các cá nhân học hỏi từ thực tiễn hay xây dựng nên lý thuyết từ kinh nghiệm trong quá khứ. Chính vì vậy, một trong những nền tảng lý thuyết cần thiết nhằm hoàn thành mục tiêu này chính là việc xây dựng nên cơ chế học hỏi của con người. Mantzavinos (2001) cho rằng cách mô tả tốt nhất  quá trình học hỏi và cải thiện khả năng nhận thức của con người chính là thông qua một quá trình thử sai (trial-and-error process), và ông đã mô tả mô hình này như trong hình 1.

 

Bắt đầu từ động cơ chung của cơ chế học hỏi nhằm cải thiện lợi ích của cá nhân thông qua việc giải quyết vấn đề, các cá nhân đều bắt đầu tư những nhận thức cơ bản đầu tiên. Những nhận thức này đến từ các thể chế đã được hình thành trong môi trường xung quanh. Các thể chế này, như đã được định nghĩa, bao gồm cả thể chế chính thức (hiến pháp, luật lệ) và không chính thức (thói quen, tôn giáo, văn hóa). Từ đó, mỗi cá nhân hình thành nên thế giới quan của mình dựa trên những nền tảng tri thức cho trước.

 

Khi gặp một vấn đề nhất định, sẽ có hai trường hợp xảy ra. Nếu như vấn đề đó quen thuộc với nhận thức của mình, tư duy con người sẽ nghiễm nhiên cho rằng đó chỉ là một vấn đề cũ, và dựa trên thói quen đã được hình thành trong quá khứ, việc giải quyết vấn đề này sẽ ngay lập tức được áp dụng. Phương pháp này có thể được gọi là sự học hỏi duy lý (rational learning), tức là dựa trên tư duy duy lý có sẵn để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, không phải cứ áp dụng những kinh nghiệm quá khứ cho một vấn đề sẽ là giải quyết được vấn đề đó. Trong trường hợp thành công, có thể xem như phương pháp giải quyết này không có gì đổi mới và tri thức vẫn được giữ nguyên chưa có sự phát triển. Còn trong trường hợp không thành công, tức là khi bất trắc xảy ra, vấn đề này sẽ được xem là một vấn đề mới và đòi hỏi phải xây dựng tri thức mới nhằm giải quyết vấn đề này.

 

 Việc phải đương đầu với một vấn đề không tương tự với những vấn đề đã gặp trong quá khứ cũng đồng nghĩa với việc đây sẽ là một vấn đề mới. Đến đây, Mantzavinos chia quá trình học hỏi thành hai bước. Bước đầu tiên là việc hình thành nên những suy luận. Những suy luận này có thể đúng hoặc sai, có thể thành công hay thất bại, nhưng ít nhiều con người cũng sử dụng tư duy của mình để tìm cách giải đáp vấn đề này. Sau khi đã có những suy luận cơ bản đầu tiên, bước thứ hai sẽ là việc lựa chọn lời giải đáp. Đến bước này có hai cách để con người giải quyết vấn đề. Cách thứ nhất sẽ là chờ đợi sự thay đổi từ môi trường khi xảy ra vấn đề và thích nghi với nó. Phương pháp này được gọi là sự học hỏi thụ động (adaptive learning). Cách thứ hai là sự học hỏi chủ động (active learning), thông qua những suy luận đã được hình thành, con người sẽ có được những cách giải quyết cho vấn đề đang gặp phải, một trong số đó sẽ được coi như sự lựa chọn tối ưu và được áp dụng. Sau khi đã áp dụng, nếu như thành công thì cách giải quyết này sẽ trở thành tri thức mới, còn nếu như thất bại, việc giải quyết sẽ lại được coi là một vấn đề mới và lại tiếp tục quá trình hai bước tư duy như đã mô tả ở trên.

 

Nguồn: Mantzavinos (2001)

           

 

Sự chia sẻ tri thức thông qua tương tác và sự hình thành và phát triển các thể chế

 

            Mô hình trong hình 1 chỉ nhằm mục đích giải thích cơ chế học hỏi và giải quyết vấn đề của từng cá nhân đơn lẻ. Tuy nhiên, trong một môi trường tồn tại rất nhiều cá nhân và có sự tương tác lẫn nhau giữa các cá nhân này. Chính vì vậy, Mantzavinos cho rằng có một sự chia sẻ tri thức giữa các cá nhân, và thông qua đó họ hình thành nên một mô hình tri thức mới và mở rộng thêm khả năng giải quyết vấn đề nếu so với việc từng cá nhân đứng riêng lẻ. Một cách thể hiện đơn giản nhất sự chia sẻ tri thức giữa hai cá nhân là thông qua giản đồ Venn (hình 2), vừa thể hiện được sự khác nhau nhất định giữa các cá nhân, lại vừa thể hiện được sự hợp nhất tri thức giữa họ.

 

 
   

 

            Sau khi đã xây dựng nên cơ chế học hỏi cá nhân đồng thời thừa nhận sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, Mantzavinos tiếp tục dựa trên những nền tảng đó đưa ra được sự giải thích cho sự tồn tại và hình thành nên các thể chế. Theo đó có hai lý do giải thích cho sự tồn tại của các thể chế, thứ nhất là do động lực tự nhiên, và thứ hai là do cơ chế nhận thức của con người. Bắt đầu từ động lực tự nhiên của con người nhằm phát triển lợi ích cá nhân, có thể thấy đây là cơ sở cho sự mâu thuẫn trong cộng đồng. Chính vì thế, các thể chế tồn tại với mục đích giải quyết và hòa giải những vấn đề và mâu thuẫn xã hội này. Tuy nhiên, tại sao mọi người lại đồng thuận và chấp nhận những thể chế, cả chính thức và không chính thức, thay vì thiết lập nên những thể chế mới bất cứ khi nào xảy ra vấn đề cần giải quyết? Câu hỏi này sẽ dẫn đến lý do thứ hai liên quan đến cơ chế nhận thức của con người đã đề cập ở trên, đó là do sự giới hạn về khả năng nhận thức, áp dụng những phong tục hay luật lệ có sẵn luôn luôn là lựa chọn đầu tiên của con người khi đối diện với vấn đề thay vì tự tìm kiếm những lời giải đáp mới.

 

Tiếp đến, các thể chế được hình thành do có sự tương tác giữa các cá nhân trong việc giải quyết các vấn đề và xã hội. Sự hình thành nên các luật lệ và văn hóa chung đến từ sự đồng thuận của các cá nhân khi họ cùng nhau giải quyết một vấn đề. Một cá nhân đơn lẻ, nếu chỉ dựa vào thế giới quan của riêng mình, sẽ rất khó có thể tự thiết lập nên những thể chế hợp lý khiến các cá nhân khác phải tuân theo mình. Một ví dụ điển hình mà Mantzavinos đưa ra chính là hình ảnh “bàn tay vô hình” của Adam Smith, tự nó dẫn dắt con người đi đến một sự đồng thuận nhằm phát triển lợi ích của từng cá nhân dẫn đến sự phát triển của cả cộng đồng.

 

Một vấn đề quan trọng hơn cần tìm hiểu chính là tại sao các thể chế có thể duy trì được hoặc tại sao chúng lại bị thay đổi. Trong một thế giới luôn luôn vận động và phát triển, không có gì là trường tồn mãi mãi, những thể chế phi chính thức như văn hóa, tôn giáo cũng chỉ tồn tại tối đa trong khoảng một thiên niên kỷ, theo như Williamson (1998). Mantzavinos cho rằng sự thay đổi thể chế có thể đến từ hai cách. Thứ nhất, thể chế có thể bị thay đổi bởi một kẻ độc tài và khiến mọi người phải nghe theo, ví dụ như tư tưởng của Hitler. Thứ hai, thể chế có thể được thay đổi và phát triển do tất cả mọi người đều có một sự đồng thuận khi gặp phải một vấn đề mới. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc tất cả mọi người đều được hưởng lợi, mà thay vào đó, quyền lợi của một số người có thể bị hy sinh cho quyền lợi của một số người khác.

 

Vấn đề cuối cùng là các thể chế được thừa nhận và thực thi như thế nào? Có thể quay trở lại cơ chế học hỏi của con người. Đó là khi xảy ra một vấn đề mới, cơ chế thử sai lại được áp dụng, với động lực cơ bản là nâng cao lợi ích bản thân. Và sau khi đã tìm được phương pháp tối ưu giải quyết vấn đề đó, có thể do một người thực hiện và chấp nhận nó sau nhiều lần áp dụng, hoặc do nhiều người cùng thực hiện, sẽ được biến thành một thói quen được thừa nhận và mỗi khi có một vấn đề tương tự, kinh nghiệm đó lại được đưa ra như một thể chế đã được định hình sẵn. Thể chế này không quan trọng là chính thức hay phi chính thức, dù có là luật lệ chính thức thông qua các văn bản giấy tờ hay chỉ là văn hóa tôn giáo không chính thức thì cũng vẫn được chấp nhận bởi mọi người.

 

Sự giải thích nên các hiện tượng kinh tế

 

Khác với kinh tế học tân cổ điển, kinh tế học thể chế không xây dựng lý thuyết của mình dựa trên những giả định mang tính chuẩn tắc về thông tin hoàn hảo và tư duy duy lý không bị bó buộc của con người, cũng như việc giao dịch giữa các cá nhân hay tổ chức diễn ra hoàn hảo và không có chi phí đi kèm. Trong lý thuyết tân cổ điển, sự tương tác giữa các cá nhân và tổ chức được dàn xếp thông qua cơ chế giá cả, và thông thường chỉ có một điểm cân bằng lý tưởng duy nhất. Ở đó không thể làm tăng lợi ích của một cá nhân hay tổ chức mà không làm giảm lợi ích của một cá nhân hay tổ chức khác (hiệu quả Pareto). Kinh tế học thể chế mới lại không cho là như thế. Trái lại, do không xây dựng dựa trên những giả định chung cho tất cả mọi người, kinh tế học thể chế mới cho rằng chỉ có cơ chế học hỏi dựa trên quá trình thử sai thì có thể giống nhau còn các cá nhân khác nhau sẽ nhìn nhận vấn đề khác nhau. Kể cả trong trường hợp tồn tại một môi trường hoàn hảo với thông tin đầy đủ, vẫn có thể có những cá nhân hành động không dựa trên bất kỳ một khuôn khổ nào. Đây chính là lý do kinh tế học thể chế mới không giả định có một điểm cân bằng cố định nào mà xây dựng khung lý thuyết của mình dựa trên trạng thái đa cân bằng, hay nói cách khác là thừa nhận sự tồn tại của nhiều điểm cân bằng.

 

Theo như North (1992) thì trong một thế giới mà sự tồn tại của bất trắc và rủi ro đã được thừa nhận, không một ai biết chính xác câu trả lời nhằm tối đa hóa lợi ích của mình. Lại có một sự phân biệt nữa giữa sự hiệu quả phân phối (allocative efficiency) kinh tế học tân cổ điển và sự hiệu quả thích nghi (adaptive efficiency) trong kinh tế học thể chế mới. Sự hiệu quả phân phối được thể hiện trong hiệu quả Pareto khi tất cả mọi người chia sẻ một điểm cân bằng. Tuy nhiên, theo North thì một xã hội cho phép diễn ra hàng loạt những thử nghiệm sẽ có khả năng giải quyết những vấn đề và mâu thuẫn tốt nhất qua thời gian. Chính vì thế, sự hiệu quả thích nghi sẽ mang đến động lực nhằm khuyến khích sự phát triển cũng như các quá trình đưa ra quyết định cho phép xã hội tối đa hóa những cố gắng tìm kiếm các giải pháp khác nhau nhằm giải quyết vấn đề.

 

Những luật lệ thể chế khác nhau sẽ tạo ra những động lực khác nhau cho sự hình thành nên tri thức ngầm trong xã hội. North cho rằng cần thiết phải có sự thay đổi dựa trên những sai lầm, thông qua một quá trình với hàng loạt quy tắc thử sai. Tuy nhiên quá trình này không hề đơn giản, bởi sự bất trắc hay sai lầm không thể hoàn toàn mang tính xác suất, mà đôi khi nó còn liên quan đến cả một hệ thống, do những hệ tư tưởng nhất định dành sự ưu tiên đến với một số hướng giải quyết không định hướng tới sự hiệu quả thích nghi.

 

Một thể chế điển hình không chỉ quyết định các hoạt động kinh tế mang đến sự khả thi và lợi ích mà còn hình thành nên sự hiệu quả thích nghi giữa các cá nhân và tổ chức khác nhau, ví dụ như luật lệ tham gia vào thị trường hay cơ chế quản trị doanh nghiệp. Chính vì vậy, kinh tế học thể chế mới lựa chọn phương pháp nghiên cứu từng thể chế điển hình đồng thời so sánh cấu trúc thể chế cá lẻ làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo của mình.

 

Tài liệu tham khảo

 

North, D. (1990), “Institutions, Institutional Change and Economic Performance”, Cambridge University Press

Slembeck, T. (1998), “A Behavioral Approach to Learning in Economics”, Working Paper, prepared for the European Economic Association Congress, Berlin, Sep. 1998

Williamson, O.E. (1998), “Transaction Cost Economics: How It Works; Where It Is Headed”, De Economist, 146:1, pp. 23-58

 

F-NIEs