Thể chế là một từ rất phổ biến trong chính trị và luật (tiếng Anh: Institution), theo định nghĩa do giaó sư Nguyễn Lân (2002) giới thiệu : "Thể" nghĩa là cách thức, "chế" nghĩa là phép định ra, tóm lại có thể định nghĩa là: “Cơ cấu xã hội do luật pháp quy định”. Tuy nhiên gần đây, các học giả nghiên cứu về thể chế trên thế giới đã đưa ra những định nghĩa mới về thể chế. Theo đó, ,thể chế theo cách hiểu đơn giản nhất là quy tắc điều chỉnh hành vi ứng xử của các cá nhân trong một cộng đồng

Theo cách hiểu này thì tất cả các bộ quy tắc có tác động như trên đều có thể được coi là thể chế chứ không đơn giản chỉ là những quy phạm pháp lý được văn bản hóa. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu kinh tế học thể chế mới đã chia thể chế ra làm hai phần: thể chế chính thức và thể chế phi chính thức.

Với cách tiếp cận mới mẻ này, ta có thể coi quy tắc ứng xử trong cuộc sống được nhiều người chấp thuận cũng là một dạng thể chế phi chính thức. Hình phạt mà các cá nhân vi phạm những quy tắc trong thể chế này phải chịu tuy không được quy vào dạng hình sự nhưng thường là sự cô lập và coi thường của cộng đồng. Theo cách hiểu này, ta có thể coi văn hóa làng xã (village culture) là một dạng thể chế phi chính thức bao hàm những quy tắc mà những người dân nông thôn sống trong mỗi đơn vị làng phải hoặc tự nguyện tuân theo mặc dù không có sự ràng buộc về pháp lý. Bản thân khái niệm văn hóa (culture) là một khái niệm rất khó nắm bắt trọn vẹn, trên thế giới có đến 160 định nghĩa khác nhau về văn hóa nên nó được coi như là “một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau” (Hữu Đạt, 2000).

Việc nghiên cứu khái niệm “văn hóa” trong văn hóa làng xã với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội nông thôn dưới lăng kính của bộ môn kinh tế học thể chế là một điều khó khăn. Khó khăn lớn nhất đó chính là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học nói chung là hành vi lựa chọn của con người trong khi “văn hóa” là là một khái niệm tương đối khó xác định. Để đơn giản hóa điều này, tác giả xin tập trung nghiên cứu về hành vi của người nông dân trong nền văn hóa làng (behavior) thay vì “văn hóa” (culture) chung. Theo góc nhìn của kinh tế học thể chế mới, ta có thể tạm coi hành vi của người nông dân trong nền văn hóa làng là hành vi lợi ích hay hành động lý trí của một cá nhân phù hợp với quy tắc được phần đông cộng đồng chấp nhận (“economic behavior” hoặc “rational behavior”) trong khi coi “văn hóa làng xã” là một dạng thể chế phi chính thức (informal institution).

 

Những đặc trưng nào trong thể chế phi chính thức ở đơn vị làng của nông thôn Việt Nam đang cản trợ sự phát triển kinh tế- xã hội?

Làng xã là một khái niệm quen thuộc với nông thôn Việt Nam có những đặc thù riêng khác với nhiều cộng đồng trên thế giới. Trong phạm vi bài báo này xin chỉ đề cập đến những nét chính nhất trong làng xã của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ. Mặc dù giữa các làng có những đặc trưng khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên, lịch sử nhưng vẫn có thể quy tụ lại ở những những nét đặc thù chung như sau: 

-Nét đặc thù chung thứ nhất là tính độc lập và khép kín cao: mỗi làng xã là một cá thể riêng với những bộ quy tắc ứng xử riêng (thường gọi là hương ước) và ngôi thứ xã hội riêng (hệ thống thứ bậc).

-Nét đặc thù chung thứ hai là tôn trọng và bảo vệ những mối quan hệ trong gia đình, dòng tộc, tôn trọng các bậc cao tuổi (trưởng họ, các cụ già) và các bậc trí thức (thầy đồ).

-Nét đặc thù thứ ba là có xu hướng giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế theo hướng hòa bình. Nói theo cách nói truyền thống là “có lý có tình”.

Nói chung văn hóa làng xã Việt Nam đã được nghiên cứu khá nhiều trong các chuyên khảo về văn hóa. Nhưng về khía cạnh tư tưởng phát triển kinh tế- xã hội trong nông thôn Việt Nam thì không nhiều. Nhận xét về điều này ở làng xã Việt Nam, Phan Cẩm Thượng (2011) viết như sau: “ Ai cũng muốn làm giầu, nhưng quen thói nông nhàn, sống đạm bạc, an phận hơn là nhiễu sự”. Hữu Đạt (2000) lại nhận xét theo hướng tích cực hơn: “Nếu xét trong quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng thì tinh thần của văn hóa làng xã thường mang yếu tố tích cực, hướng người ta tới ý thức tập thể, tới tinh thần trách nhiệm chung, hạn chế những biểu hiện của cá nhân chủ nghĩa (…) Theo cách quan niệm như vậy, mọi giá trị vật chất và tinh thần đều được đo bằng thang độ của cộng đồng làm chuẩn. Mọi giá trị thuộc về cá nhân dù lớn đến đâu không được cộng đồng công nhận cũng không có ý nghĩa”

Có nhiều nguyên nhân khiến cho văn hóa làng xã- hay nói cách khác là thể chế phi chính thức của làng xã Việt Nam không khuyến khích được tư duy chủ động trong phát triển kinh tế. Có thể chia làm hai nguyên nhân chính như sau: Thứ nhất, Văn hóa Khổng giáo khuyến khích con người tôn trọng học vấn, những người có khả năng tiếp thu tri thức đều được khuyến khích theo con đường học vấn để trở thành quan lại chứ không khuyến khích sáng tạo ra phương thức sản xuất mới hay sản phẩm mới mang lại giá trị kinh tế. Trong thang bậc xã hội cũ, giai tầng thợ thủ công và thương gia được đánh giá thấp nhất về mặt địa vị (theo thứ bậc sỹ-nông-công-thương)

Thứ hai, quá trình một nghìn năm đô hộ của phương Bắc cũng như những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và nội chiến cũng góp phần làm suy giảm động lực sáng tạo phương thức sản xuất mới và sản xuất quy mô lớn ở làng xã nông thôn Việt Nam do nguồn lao động không ổn định ( những người khỏe mạnh có khả năng sáng tạo trong sản xuất thường bị bắt đi lính), tài sản nếu tích lũy lớn có xu hướng bị xung công để làm quỹ chiến tranh của chính quyền phong kiến.

Như vậy xét một cách tổng quát,  mục đích cuối cùng của thể chế phi chính thức ở làng xã Việt Nam truyền thống là duy trì sự ổn định và độc lập hơn là sự phát triển kinh tế- xã hội. Đối với từng cá nhân, sự đóng góp với cộng đồng và sự thừa nhận của cộng đồng (vai thứ trong làng) quan trọng hơn tài sản cá nhân và sự sáng tạo trong lao động sản xuất. Sự liên kết chỉ phục vụ sự gắn kết cộng đồng mang tính tình cảm chứ không phải để nâng cao năng lực sản xuất và sản lượng.  Đó là nguyên nhân lịch sử sâu xa dẫn đến tư duy trì trệ của một bộ phận không nhỏ nông dân ở nông thôn Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường.

 

Tham khảo

Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, NXB Từ điển Bách Khoa

Hữu Đạt, “Văn hóa và giao tiếp ngôn ngữ của người Việt, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2000

Phan Cẩm Thượng, Văn minh vật chất người Việt, NXB Tri thức, 2011