Tám tháng đầu năm 2014, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 5,82% so với cuối năm 2013 mặc dù ngànhngân hàng đã tích cực triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng như: giảm lãi suất (tính từ năm 2012 đến nay NHNN đã 9 lần liên tiếp điều chỉnh hạ mặt bằng lãi suất), áp dụng các mô hình sản phẩm cho vay liên kết 4 nhà trong lĩnh vực bất động sản, triển khai các gói hỗ trợ cho vay mua nhà ở,..Nguyên nhân là do nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn tái cơ cấu tổng thể, tổng cầu còn yếu khiến cho nhu cầu hấp thụ vốn trong nền kinh tế giảm cùng với đó là tình trạng nợ đọng ngân sách chưa được giải quyết, các doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu từ phía ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng còn cao, chưa được giải quyết triệt để (tính đến tháng 7/2014 tỷ lệ nợ xấu chiếm 4,11% tổng dư nợ - ĐTCK).

 

Tính từ năm 2010 trở về trước, tăng trưởng tín dụng thấp nhất là 20%/năm (giai đoạn 2005 – 2006), có những giai đoạn đạt trên 50%/năm (năm 2007) nhưng tỷ lệ tăng trưởng GDP đạt cao nhất là 8,5% vào năm 2007 cùng với đó là tỷ lệ lạm phát trên 10%. Nghĩa là để đạt được tăng trưởng GDP 1% thì tín dụng phải tăng trưởng gần 6% và đi kèm với mức lạm phát cao (2 con số). Tám tháng đầu năm 2014 mặc dù tín dụng chỉ tăng 5,82% nhưng tỷ lệtăng trưởng GDP đã tăng 5,54% và mức lạm phát năm 2014 dự báo gần 5%, ở đây ta có thể thấy tỷ lệ tăng trưởng GDP/tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đã xấp xỉ 1:1. 

 

Bảng 1: Diễn biến tăng trưởng tín dụng, lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 – 2013

 

Mặt khác, trong thời gian vừa qua, đồng vốn tín dụng đã hướng vào những khu vực sản xuất thực như nông nghiệp, nông thôn,..và mang lại hiệu quả tốt. Cụ thể, đối với 5 lĩnh vực ưu tiên, so với cuối năm 2013 dư nợ cho vay để phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đã tăng 6.1%, dư nợ cho vay xuất nhập khẩu tăng 4,37%, dư nợ cho vay đối với các DN ứng dụng công nghệ cao tăng 12,73%, các ngành công nghiệp hỗ trợ tăng 6,12% và với các DN vừa và nhỏ đã tăng 2,57%. Qua đó, ta có thể thấy NHNN đang điều hành chính sách tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với hiệu quả, chất lượng tín dụng được đặt lên hàng đầu, hiệu quả tín dụng năm 2014 đã được nâng lên rõ rệt. Kết quả gần đây đã cho thấy rõ điều này:ngày 3/11 vừa qua hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam từ mức B+ lên BB-[1] cùng với đó là đợt phát hành trái phiếu thành công trên thị trường quốc tế trị giá 1 tỷ USD với lãi suất cố định là 4,8% (thấp hơn mức dự kiến là 5,125%). Theo quy luật hàng năm, xu hướng tín dụngthường tăng trưởng mạnh vào những tháng cuối năm, cùng với đó là NHNN đã tiếp tục giảm lãi suất vào ngày 28/10 vừa qua và các ngân hàng đang tích cực triển khai nhiều chương trình tín dụng với nhiều ưu đãi cho khách hàng, vì vậy hoàn toàn có thể tin tưởng rằng tăng trưởng tín dụng năm 2014 sẽ đạt mục tiêu từ 12% - 14%/năm.

 

Tuy vậy, để đạt được kết quả như mong muốn cần có sự chủ động tích cực từ phía các NHTM, sự hỗ trợ của chính phủ và nỗ lực của các doanh nghiệp cùng với những định hướng điều hành hiệu quả từ phía NHNN.

 

Đối với Chính Phủ: cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đặc biệt là thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các DNNN. Giải quyết nợ đọng trong các doanh nghiệp XDCB vì một lượng lớn nợ xấu của các ngân hàng đang nằm trong các doanh nghiệp này, kết hợp tái cấu trúc đầu tư công nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới thành lập, tích cực thanh tra giám sát hoạt động của các doanh nghiệp hiện hành.

 

Đối với các NHTM: Việc triển khai cácchương trình kết nối doanh nghiệp – ngân hàng trong thời gian qua được đánh giá là khá hiệu quả.Vì vậy các ngân hàng cần tiếp tục triển khai các chương trình cho vay liên kết 4 nhà, chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các NHTM cần chủ động nghiên cứu các biện pháp nhằm tăng trưởng tín dụng như áp dụng linh hoạt các mức cho vay phù hợp với từng khách hàng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay, đưa ra các gói cho vay với lãi suất ưu đãi đi kèm với các chương trình khuyến mại, điều chỉnh hạn mức cho vay kết hợp thực hiện giảm lãi suất khoản vay cũ, xem xét cho vay mới với lãi suất. Tuy vậy, các NHTM cần chú ý tăng trưởng tín dụng đi kèm với chất lượng tín dụng, cơ cấu lại nợ, đưa tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn.

 

Đối với các doanh nghiệp: tự đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc trong doanh nghiệp, năng cao năng lực về quản trị, tài chính. Có như vậy, các ngân hàng mới đủ điều kiện xem xét cho vay. Các doanh nghiệp cũng cần phải áp dụng các chuẩn mực về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp mình, cùng với ngân hàng thực hiện cơ cấu lại nợ, minh bạch hóa thông tin.

 

Đối với NHNN: kết hợp với Chính Phủ thực hiện các biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, tích cực trong việc giải quyết nợ xấu, phòng ngừa nợ xấu gia tăng. NHNN cần đưa ra các chính sách cho phép các tổ chức tín dụng được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ của doanh nghiệp. Đưa ra các chính sách tín dụng nhằm tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên cùng với việc chỉ đạo các NHTM nghiên cứu cơ cấu lại nợ, linh hoạt áp dụng các trần về lãi suất, điều chỉnh tỷ giá hợp lý.

 

Các giải pháp trên dường như còn khá chung chung và không rõ ràng cụ thể. Theo ý kiến riêng của tác giả, nền kinh tế Việt Nam cần có một sự cải cách lớn trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiện, chúng ta không nên thực hiện dàn trải quá nhiều mục tiêu, thực hiện trên nhiều lĩnh vực vì thực tế ngân sách nhà nước còn ít mà lại hướng đến nhiều mục tiêu, lĩnh vực thì hiệu quả sẽ không cao. Vì vậy, nhà nước nên tập trung nguồn vốn vào một lĩnh vực cụ thể, thực hiện cải cách toàn diện. Ví dụ, trong giai đoạn 2013 – 2015 thực hiện công cuộc phát triển nông nghiệp nông thôn. Vì đây là lĩnh vực có nhiều rủi ro nhưng tốc độ thu hổi vốn nhanh và đây cũng là ngành chiếm nhiều lao động trên cả nước.Thực tế chỉ 4% lao động trong ngành này có qua đào tạo, cùng với đó là hoạt động sản xuất manh mún, nhỏ lẻ.Vì vậy nhà nước nên mở các lớp đào tạo lao động, đến từng hộ dân vận động họ làm theo các mô hình đổi mới, áp dụng trồng trọt chăn nuôi theo đúng quy trình, tiến độ khoa học. Cùng với đó là sự liên kết giữa ngân hàng – nông dân – doanh nghiệp và sự tham gia đào tạo của các cơ quan sở, bộ liên ngành cung cấp các máy móc, kĩ thuật hiện đại, thực hiện đổi mới toàn diện theo hướng công nghiệp, hiện đại. Có như vậy, chúng ta mới có thể kỳ vọng được sự tăng trưởng tín dụng bền vững gắn liền với chất lượng, hiệu quả.

 



[1]điểm đánh giá mức độ xứng đáng được vay vốn của một cá nhân, doanh nghiệp, và cao hơn là một quốc gia. Là cơ sở để đánh giá khả năng trả nợ của cá nhân, doanh nghiệp hay quốc gia đó khi đi vay nợ.


Tài liệu tham khảo

1.      Tạp chí Tài chính – tiền tệ .

2.      Tạp chí Ngân hàng.

3.      Trang tin Đầu tư chứng khoán, vn economy, cafef, trang chủ NHNN Việt Nam..

 

4.      Kỷ yếu hội thảo khoa học”tăng trưởng tín dụng trong hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay” do CLB SRC tổ chức.