Mô hình xung đột tiếp theo 


Chính trị thế giới đang bước vào một thời kỳ mới, và các học giả vội vã dội vào chúng ta những kiến giải về diện mạo tương lai của nó: sự cáo chung của lịch sử, sự phục hồi những cuộc cạnh tranh truyền thống giữa các nhà nước dân tộc, sự sa sút của nhà nước dân tộc trước sức ép của các khuynh hướng khác của chủ nghĩa phân lập bộ lạc, chủ nghĩa toàn cầu... Mỗi cách kiến giải này đều nắm bắt những khía cạnh riêng biệt của hiện thực đang hình thành. Nhưng tất cả chúng đều bó qua một khía cạnh cơ bản cốt yếu nhất của vấn đề. 

Tôi cho rằng nguồn gốc cơ bản của các xung đột trên thế giới này sẽ không còn là hệ tư tưởng hay kinh tế nữa. Các ranh giới quan trọng nhất chia rẽ loài người và nguồn gốc bao trùm của các xung đột sẽ là văn hóa. Nhà nước dân tộc vẫn là nhân vật chủ yếu trên sân khấu thế giới, nhưng các xung đột cơ bản nhất của chính trị toàn cầu sẽ diễn ra giữa các dân tộc và các nhóm người thuộc những nền văn minh khác nhau. Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ trở thành nhân tố chi phối chính trị thế giới. Ranh giới giữa các nền văn minh sẽ là chiến tuyến tương lai. 

Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ là giai đoạn diễn biến cuối cùng của các xung đột toàn cầu trên thế giới hiện đại. Trong một thế kỷ rưỡi sau sự ra đời của hệ thống quốc tế hiện đại với Hòa ước giữa các ông vua: các hoàng đế, quốc vương, các nhà quân chủ chuyên chế và quân chủ lập hiến, những người ra sức mở rộng bộ máy quan liêu; tăng cường quân đội, củng cố sức mạnh kinh tế của mình, mà Cái chính là liên kết các vùng đất mới vào lãnh thổ của mình. Quá trình này đẻ ra các nhà nước dân tộc, và bắt đầu từ cuộc Ðại Cách mạng Pháp, các tuyến xung đột cơ bản kéo ra không hẳn là giữa những người cầm quyền, mà đúng hơn là giữa các dân tộc. Như R.R. Palmer đã nói năm 1793: „Những cuộc chiến tranh giữa các ông vua đã chấm dứt, và những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc đã bắt đầu.“ Cái mô hình này kéo dài suốt thế kỷ 19 cho tới tận Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Rồi do kết quả của cuộc cách mạng Nga và phản ứng chống lại nó, xung đột giữa các dân tộc nhường chỗ cho xung đột giữa các hệ tư tưởng. Các bên xung đột lúc đầu là chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc xã và chế độ dân chủ tự do, rồi sau đó là chủ nghĩa cộng sản và chế độ dân chủ tự do. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, xung đột này thể hiện qua cuộc đọ sức giữa hai siêu cường, mà cả hai đều không phải là nhà nước dân tộc theo nghĩa cổ điển của Châu Âu. Mỗi siêu cường đều tự xác định mình bằng các phạm trù hệ tư tưởng. 

Xung đột giữa các ông hoàng, các nhà nước dân tộc và các hệ tư tưởng chủ yếu là xung đột trong nền văn minh phương Tây. William Lind gọi đó là „những cuộc nội chiến Phương Tây“. Ðây là bản chất của Chiến tranh lạnh cũng như của các cuộc chiến tranh thế giới và các cuộc chiến tranh hồi thế kỷ 17, 18 và 19. Với sự kết thúc Chiến tranh lạnh, giai đoạn Phương Tây của sự phát triển của chính trị quốc tế cũng kết thúc. Trọng tâm xung đột chuyển thành tác động qua lại giữa Phương Tây và các nền văn minh phi Phương Tây. Trong giai đoạn mới này, các dân tộc và các chính phủ của các nền văn minh Phi Phương Tây không còn đóng vai trò như là các đối tượng của lịch sử mục tiêu của chính sách thực dân Phương Tây nữa, mà cùng với Phương Tây, chúng bắt dầu khởi động và sáng tạo ra lịch sử. 
 
Bản chất của các nền văn minh 

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, thế giới bị phân chia thành Thế giới thứ Nhất, Thế giới thứ Hai và Thế giới thứ Ba. Nhưng sau đó, cách phân chia đó không còn thích hợp nữa. Giờ đây sẽ có ý nghĩa hơn nhiều nếu phân nhóm các nước theo các tiêu chí văn hóa và văn minh chứ không căn cứ vào hệ thống chính trị hay kinh tế, hoặc theo trình độ phát triển kinh tế của chúng. 

Khi nói tới văn minh, ta hàm ý điều gì? Văn minh là một thực thể văn hóa nào đấy. Làng xóm, khu vực, nhóm sắc tộc, dân tộc, cộng đồng tôn giáo, tất cả đều mang sắc thái văn hóa đặc thù của mình, phản ánh những mức độ khác nhau của tính không đồng nhất về văn hoá. Về văn hóa, một làng phía Nam có thể khác với một làng phía Bắc Italia, song chúng vẫn là những xóm làng Italia, bạn không thể lẫn lộn chúng với những xóm làng người Đức. Về phần mình, các nước Châu Âu có những đặc tính văn hóa chung phân biệt chúng với thế giớl Trung Quốc hay Ảrập. 

Vậy là chúng ta đã đi tới bản chất của vấn đề. Bởi vì thế giới Phương Tây, vùng Ảrập và Trung Quốc không phải là những phần của một cộng đồng văn hóa lớn hơn. Chúng là những nền văn minh. Chúng ta có thể xác dịnh văn minh là một cộng đồng văn hóa cao nhất, là trình độ cao nhất của tính đồng nhất văn hóa của con người. Cấp độ tiếp theo sẽ là những gì phân biệt loài người với các loài động vật khác. Các nền văn minh được xác định bởi sự hiện hữu những nhân tố chung khách quan như ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, phong tục, thể chế và cả bởi những đặc tính chủ thể của con người. Con người có những cấp độ tự đồng nhất khác nhau: một cư dân thành Rôm có thể xác định mình ở những mức độ khác nhau là người Rôm, người Italia, tín đồ Thiên chúa giáo, tín đồ Kito giáo, người Châu Âu và người Phương Tây. Nền văn minh là cấp độ tính đồng nhất rộng lớn nhất mà anh ta sở thuộc. Tính tự đồng nhất về văn hóa của con người có thể thay đổi và do đó, thành phần ranh giới của các nền văn minh cũng thay đổi theo. 

Nền văn minh có thể bao hàm một lượng người đông như Trung Quốc mà như Lucian Pye đã nói, „đó là một nền văn minh đóng vai trò nhà nước“, hoặc một nhóm người rất nhỏ như cộng đồng người Carribe nói tiếng Anh. Một nền văn minh có thể bao hàm một số nhà nước dân tộc như các nền văn minh Phương Tây, Mỹ Latinh, Ảrập, hoặc có thể chỉ gồm một nhà nước như nền văn minh Nhật Bản. Rõ ràng, các nền văn minh có thể bị pha trộn, chồng lấn lẫn nhau và bao gồm nhiều tiểu văn minh. Nều văn minh Phương Tây có hai biến thể chủ yếu châu Âu và Bắc Mỹ, còn nền văn minh Hồi giáo thì có các tiểu văn minh Ảrập, Thổ Nhĩ Kỳ và Mã Lai. Dầu sao, các nền văn minh cũng là những chỉnh thể xác định và những ranh giới giữa chúng tuy ít khi rạch ròi nhưng có thực. Các nền văn minh rất năng động với những bước thăng trầm, tách nhập. Và như mọi sinh viên sử học đều biết, có những nền văn minh mất đi, cát bụi thời gian chôn vùi chúng. 

Ở Phương Tây người ta cho rằng nhà nước dân tộc là những nhân vật chủ yếu trên sân khấu quốc tế. Nhưng chúng đóng vai trò này chỉ trong mấy trăm năm. Một phần lớn lịch sử loài người là lịch sử các nền văn minh. Theo tính toán của A. Toynbee, lịch sử loài người đã biết tới 21 nền văn minh. Chỉ có 6 trong số chúng còn tồn tại trên thế giới hiện nay. 

Tại sao các nền văn minh không tránh khỏi đụng độ với nhau? 

Tính đồng nhất ở cấp độ nền văn minh sẽ ngày càng quan trọng và diện mạo thế giới sẽ được định hình ở mức độ đáng kể trong tiến trình tương tác giữa bảy hoặc tám nền văn minh lớn. Chúng bao gồm các nền văn minh: Phương Tây, Khổng giáo, Nhật Bản, Hồi giáo, Ấn Ðộ, Slave Ðông chính giáo, Mỹ Latinh và có thể cả Phi Châu, những xung đột quan trọng nhất trong tương lai sẽ nổ ra dọc theo các đường ranh giới phân cách các nền văn minh này. 

Tại sao lại như vậy? 

Trước hết, những khác biệt giữa các nền văn minh không những hiện thực mà còn cơ bản. Các nền văn minh khác nhau về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống và quan trọng nhất là tôn giáo. Con người thuộc các nền văn minh khác nhau nhìn theo cách khác nhau về các quan hệ giữa Chúa và Con người, cá nhân và nhóm, công dân và nhà nước, cha mẹ và con cái, vợ và chồng, có các quan niệm khác nhau về tầm quan trọng tương quan giữa các quyền và nghĩa vụ, tự do các cưỡng bức, bình đẳng và đẳng cấp. Những khác biệt này là sản phẩm của nhiều thế kỷ. Chúng sẽ không nhanh chóng biến mất. Chúng cơ bản hơn so với những khác biệt về hệ tư tưởng chính trị và chế độ chính trị. Đương nhiên khác biệt không nhất thiết có nghĩa là xung đột, và xung đột không nhất thiết có nghĩa là bạo lực. Song qua nhiều thế kỷ, chính là những khác biệt giữa các nền văn minh đã gây ra những xung đột dai dẳng nhất và đẫm máu nhất. 

Thứ hai, thế giới đang trở nên bé đi. Tác động qua lại giữa các dân tộc thuộc các nền văn minh khác nhau tăng lên. Ðiều đó làm tăng tự ý thức văn minh, làm sâu thêm sự nhận biết về những khác biệt giữa các nền văn minh cũng như những điểm tương đồng trong khuôn khổ một nền văn minh. Làn sóng người Bắc Phi nhập cư vào Pháp gây ra thái độ thù địch trong người Pháp nhưng đồng thời làm tăng thiện cảm đối với những người nhập cư khác: „những tín đồ Thiên chúa giáo và người Châu Âu ngoan đạo“ từ Ba Lan. Người Mỹ phản ứng trước sự đầu tư của Nhật một cách bệnh hoạn hơn nhiều so với những khoản đầu tư ở mức lớn hơn của Canada và các nước Châu Âu. Mọi chuyện diễn ra theo kịch bản mà Donald Horowitz đã viết: „Một ngườ Ibo có thể là Oweri Ibo hoặc Onitsha Ibo khi ở miền Ðông Nigeria. Nhưng đến thủ đô Lagot, anh ta chỉ đơn thuần là người Ibo. Tới London, anh ta là người Nigeria, tới New York anh ta là người châu Phi“. Tác động qua lại giữa những đại biểu của các nền văn minh khác nhau củng cố ý thức về văn minh của họ vì điều đó, đến lượt nó, lại làm gay gắt thêm những bất đồng và „thù hận đã đi vào chiều sâu của lịch sử hay ít ra là được tiếp nhận theo kiểu đó. 

Thứ ba, những quá trình hiện đại hoá kinh tế và biến đổi xã hội trên toàn thế giới đang phá vỡ tính đồng nhất truyền thống của con người nơi địa bàn cư trú, đồng thời làm suy giảm vai trò của nhà nước dân tộc với tính cách là nguồn gốc của sự đồng nhất. Những khoảng trống hình thành như vậy phần lớn được tôn giáo, thường là dưới dạng các phong trào chính thống, lấp vào. Những phong trào này xuất hiện không chỉ trong Hồi giáo, mà cả trong Kito giáo Phương Tây, Do Thái giáo, Phật giáo, Ấn Ðộ giáo. Ở hầu hết các nước và hầu hết các tôn giáo, trào lưu chính thống được sự ủng hộ của những người trẻ tuổi có học vấn, các chuyên gia có chuyên môn cao trong tầng lớp trung lưu, những người làm nghề tự do, các nhà doanh nghiệp. Như George Weigel đã nhận xét: „Phi thế tục hóa thế giới là một trong những hiện tượng xã hội nổi bật ở cuối thể kỷ XX“. Sự phục sinh của tôn giáo, hay như Gilles Kepel nói, „sự phục thù của Chúa“ tạo cơ sở cho sự đồng nhất và gắn bó với tính chung, vượt ra ngoài biên giới quốc gia, và cho sự thống nhất của các nền văn minh. 

Thứ tư, sự phát triển của tự ý thức văn minh được quyết định bởi vai trò 2 mặt của Phương Tây. Một mặt, Phương Tây đứng trên đỉnh cao quyền lực của mình, nhưng mặt khác, và có thể là vì vậy trong các nền văn minh phi Phương Tây đang diễn ra hiện tượng trở về cội nguồn. Người ta nghe thấy đề cập ngày càng nhiều tới những xu hướng hướng nội và „Châu Á hoá“ ở Nhật, tới sự kết thúc ảnh hưởng Nehru và „Hindu hóa“ Ấn Ðộ, tới tư tưởng về sự sụp đổ của các tư tưởng Phương Tây về Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa dân tộc và „Hồi giáo hóa“ Trung Ðông, và gần dây nhất là cuộc tranh cãi về Phương Tây hóa hay là Nga hóa đất nước của Boris Elsin. Một Phương Tây ở đỉnh cao quyền lực của mình đối dầu với các nước phi Phương Tây ngày càng có mong muốn, quyết tâm và nguồn lực để hình thành thế giới theo mô hình phi Phương Tây. 

Trong quá khứ, giới elit của các nước phi Phương Tây thường là những người có liên quan nhiều nhất đến với Phương Tây, được đào tạo ở các trường Oxford (Anh), Sorbonne (Pháp) hoặc Sandhurst (Anh) và đã hấp thụ những giá trị và lối sống Phương Tây. Trong khi đó, cư dân ở các nước này thường duy trì mối liên hệ liên tục với văn hóa bản địa của mình. Song giờ đây, mọi thứ đã thay đổi. Ở nhiều nước phi Phương Tây, trong giới elit đang diễn ra quá trình mạnh mẽ phi Phương Tây hóa và quay trở về với cội nguồn văn hóa riêng của mình. Trong khi đó những tập quán lối sống và văn hóa Phương Tây, thường là của Mỹ, lại được phổ biến trong các tầng lớp quần chúng đông đảo. 

Thứ năm, các đặc tính và khác biệt văn hoá ít thay đổi hơn so với các đặc tính và khác biệt về kinh tế và chính trị và do vậy việc giải quyết và đưa chúng tới thỏa hiệp cũng phức tạp hơn. Ở Liên Xô trước đây, những người cộng sản có thể trở thành người giàu, nhưng người Nga dù có muốn bao nhiêu cũng không thể trở thành người Estonia, và người Azerbaizan không thể trở thành người Armenia. Trong những cuộc xung dột về giai cấp và hệ tư tưởng, câu hỏi mấu chốt là «Anh theo phe phái nào?“ và người ta có thể lựa chọn đứng về phe nào, và thay đổi lập trường đã chọn. Trong đụng độ giữa các nền văn minh, câu hỏi đặt ra theo cách khác: „Anh là ai?“ Ðấy là điều đã định và không ai có thể thay đổi. Như chúng ta đã biết qua kinh nghiệm Bosnia, Kavkaz, Suđan, nếu trả lời sai câu hỏi này, anh có thể lập tức nhận một viên đạn vào đầu. Tôn giáo chia rẽ con người còn khắt khe hơn cả tính quy thuộc sắc tộc. Một người có thể lai nửa Pháp, nửa Ảrập và thậm chí có thể là công dân của cả hai nước này, nhưng sẽ phức tạp hơn nhiều nếu một nửa là tín đồ Thiên chúa giáo, một nửa là tín đồ Hồi giáo. 

Cuối cùng, chủ nghĩa khu vực kinh tế đang tăng lên. Tỷ lệ chu chuyển thương mại bên trong khu vực trong thời kỳ năm 198089 ở Châu Âu tăng từ 51 lên 59%, ở Ðông Á từ 33 lên 37% và ở Bắc Mỹ từ 32 lên 36%. Nhìn chung, vai trò của các mối liên hệ kinh tế khu vực sẽ được tăng cường. Một mặt, chủ nghĩa khu vực kinh tế thành công sẽ củng cố ý thức quy thuộc về một nền văn minh. Mặt khác chủ nghĩa kinh tế khu vực chỉ có thể thành công khi nó bắt rễ sâu vào tính chung của nền văn minh. Cộng đồng Châu Âu dựa vào các cơ sở chung của văn hóa Châu Âu và Kito giáo Phương Tây. Thành công của Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) phụ thuộc vào sự nhích dần liên tục giữa các nền văn hoá Mỹ, Canada và Mexico. Ngược lại, Nhật vấp phải những khó khăn trong việc tạo ra một cộng đồng kinh tế tương tự ở Ðông Nam Á vì Nhật là một xã hội và một nền văn minh cá biệt. Dù các mối quan hệ thương mại và tài chính của Nhật với các nước còn lại của Ðông Nam Á có mạnh như thế nào thì những khác biệt văn hóa giữa Nhật với các nước ấy vẫn cản trở chúng tiến lên theo con đường liên kết kinh tế khu vực như mô hình của Tây Âu hay Bắc Mỹ. 

Trái lại, tính cộng đồng văn hóa rõ ràng đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mau chóng những mối quan hệ kinh tế giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa với Hồng Kông, Ðài Loan, Singapore và những cộng đồng người Hoa ở các nước Châu Á khác. Với sự kết thúc cuộc Chiến tranh lạnh, tính cộng đồng văn hóa nhanh chóng lấn át những bất đồng về hệ tư tưởng. Trung Hoa lục địa và Ðài Loan đang ngày càng xích lại gần nhau. Nếu tính cộng đồng văn hóa là tiền đề cho liên kết kinh tế thì trung tâm khối kinh tế Ðông Á trong tương lai rất có thể sẽ là Trung Quốc. Thực tế khối này đã xuất hiện. Như Murray Weidenbaum nhận xét: „Mặc dù Nhật Bản hiện đang chi phối trong khu vực, nhưng một trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính mới ở Châu Á đang nhanh chóng xuất hiện trên cơ sở của Trung Quốc. Không gian chiến lược này có tiềm năng công nghệ và sản xuất hùng mạnh (Đài Loan), có các cán bộ với kỹ năng lỗi lạc trong lĩnh vực tổ chức, tiếp thị và dịch vụ (Hồng Kông), có một mạng lưới truyền thông tốt (Singapore), một nguồn vốn tài chính lớn (cả ba nước) và những nguồn lực to lớn về đất đai, tài nguyên và lao động (Trung Hoa lục địa)... Cái cộng đồng có ảnh hưởng mà phần nhiều được xác lập trên sự phát triển cơ sở tông pháp truyền thống này chạy dài từ Quảng Châu tới Sinenpore, từ Kuala Lumpur tới Manila. Đó là xương sống của nền kinh tế Ðông Á“ [l]. 

Tính tương đồng văn hóa tôn giáo cũng tạo thành nền tảng của Tổ chức Hợp tác Kinh tế, liên kết 10 nước Hồi giáo không thuộc khối Ảrập: Iran, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Azebaizan, Kazakhstan, Kirgizitan, Turmenia, Tadzhikistan, Uzbekistan và Afghanistan. Tổ chức này vốn được sáng lập trong những năm 1960 bởi 3 nước Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Iran, song xung lực quan trọng cho sự khôi phục và mở rộng nó là việc các nhà lãnh đạo một số nước tham gia tổ chức này ý thức được rằng họ không có cơ hội được thu nhận vào Cộng đồng châu Âu. Tương tự, tổ chức CARICOM, Thị trường chung Trung Mỹ và MERCOSUR đều dựa trên nền tảng văn hóa chung. Tuy vậy, các nỗ lực xây dựng một cộng đồng kinh tế rộng lớn hơn gồm các đảo quốc vùng Caribe và Trung Mỹ không thu được kết quả: việc bắc nhịp cầu giữa văn hóa Anh và văn hóa Mỹ Latinh cho đến nay vẫn không thành. 

Khi xác định tính đồng nhất riêng của mình theo các mặt sắc tộc và tôn giáo, người ta có thiên hướng gọi các quan hệ giữa mình với những người thuộc các sắc tộc và tôn giáo khác như là các quan hệ giữa „chúng ta“ và „họ“. Sự cáo chung của các nhà nước hệ tư tưởng hóa ở Ðông Âu và Liên Xô cũ cho phép các hình thức truyền thống của tính đồng nhất và mâu thuân săc tộc nổi lên hàng đầu. Những khác biệt về văn hóa và tôn giáo tạo ra những bất đồng trên phạm vi lớn về những vấn đề chính sách, như nhân quyền hay di cư, thương mại hay sinh thái. Sự gần gũi về địa lý làm nảy sinh những yêu sách về lãnh thổ từ Bosnia tới Minđanao. Nhưng điều quan trọng nhất là những nỗ lực của Phương Tây nhằm truyền bá các giá trị của mình - nền dân chủ và chủ nghĩa tự do với tính cách là những giá trị toàn nhân loại, duy trì ưu thế quân sự và củng cố những lợi ích kinh tế của mình - đã vấp phải sự chống đối của các nền văn minh khác. Các chính phủ và các nhóm chính trị ngày càng không có khả năng động viên cư dân và hình thành nên các liên minh trên cơ sở hệ tư tưởng và chúng càng cố gắng đạt được sự ủng hộ bằng cách cầu cứu đến tính cộng đồng về tôn giáo và văn minh. 

Bởi vậy, sự đụng độ giữa các nền văn minh diễn ra ở hai cấp độ. Ở cấp vi mô các nhóm nước lân cận dọc đường ranh giới giữa các nền văn minh đấu tranh, thường là đổ máu, để giành quyền kiểm soát đất đai và kiểm soát lẫn nhau. Ở cấp vĩ mô, các nước thuộc những nền văn minh khác nhau cạnh tranh giành ảnh hưởng trong lĩnh vực kinh tế và quân sự, tranh giành quyền kiểm soát các thể chế quốc tế và các nước thứ ba, đồng thời ra sức khẳng định các giá trị tôn giáo và chính trị của mình. 

Ranh giới giữa các nền văn minh 

Nếu trong những năm Chiến tranh lạnh, các lò lửa chủ yếu gây ra khủng hoảng và đổ máu tập trung dọc các đường ranh giới chính trị và hệ tư tưởng thì giờ đây chúng chuyển sang ranh giới giữa các nền văn minh. Chiến tranh lạnh bắt đầu khi „bức màn sắt“ chia cắt Châu Âu về chính trị và hệ tư tưởng. Chiến tranh lạnh chấm dứt cùng với việc loại trừ „bức màn sắt“. Nhưng sự chia cắt Châu Âu về mặt hệ tư tưởng vừa biến mất thì sự chia cắt nó về mặt văn hoá thành một bên là Kito giáo Phương Tây và một bên là Đông chính giáo và Hồi giáo lại xuất hiện. Đường phân chia quan trọng nhất ở Châu Âu, như William Wallace quan niệm, có thể là đường ranh giới phía Ðông của Kito giáo Phương Tây, hình thành vào năm 1500. Ðường ranh giới này chạy dọc theo đường biên giới hiện nay giữa Phần Lan và Nga, giữa các nước vùng Baltic và Nga, cắt ngang qua Belarussia và Ukraina, tách vùng Tây Ukraina ngả theo Kito giáo Phương Tây và vùng Ðông Ukraina theo Ðông chính giáo, rồi quặt sang phía Tây, tách vùng Transylvania ra khỏi phần còn lại của Rumania, và sau đó xuyên qua Nam Tư, gần như trùng với đường ranh giới hiện đang phân cách Croatia và Slovenia và ra khỏi phần đất còn lại của Nam Tư. Dĩ nhiên ở khu vực Balkan, đường ranh giới này trùng hợp với biên giới lịch sử giữa các đế chế Habsburg và Ottoman. Các dân tộc ở phía Bắc và phía Tây của đường ranh giới chung của lịch sử châu Âu: chủ nghĩa phong kiến, Thời kỳ Phục Hưng, Phong trào Cải lương, Thời kỳ Ánh sáng, cuộc Ðại Cách Mạng Pháp, Cách mạng Công nghiệp. Nhìn chung, về mặt kinh tế họ khá hơn các dân tộc phía Ðông. Giờ đây họ có thể tính toán hợp lực chặt chẽ hơn trong khuôn khổ nền kinh tế Châu Âu thống nhất và củng cố các hệ thống chính trị dân chủ. Những người ở phía Đông và phía Nam của đường ranh giới này theo Kito Ðông chính giáo và Hồi giáo. Về mặt lịch sử, chúng thuộc các đế chế Ottoman hoặc Sa hoàng, và dội tới chúng chỉ là tiếng vang của các sự kiện lịch sử quyết định số phận của Phương Tây. Về kinh tế chúng thường cách xa Phương Tây và dường như ít sẵn sàng tạo ra các hệ thống chính trị dân chủ ổn định. Và giờ đây „tấm màn chung“ văn hóa đã thay thế „bức màn sắt“ hệ tư tưởng với tính cách là giới tuyến chủ yếu ở Châu Âu. Như các sự kiện ở Nam Tư cho thấy, đấy không chỉ là ranh giới của sự khác biệt văn hóa mà đôi khi còn là của những cuộc xung đột đẫm máu. 

Cuộc xung đột dọc đường ranh giới giữa các nền văn minh Phương Tây và Hồi giáo đã và đang diễn ra suốt 13 thế kỷ. Sau khi Hồi giáo ra đời, cuộc tiến quân của người Ảrập và người Moor về phía Tây và phía Bắc chỉ kết thúc ở Tours năm 732. Suốt từ thế kỷ l l đến thế kỷ 13, đội quân Thập tự chinh thành công tạm thời đã cố gắng đưa Kito giáo và luật chúa tới Ðất Thánh. Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17, người Thổ dưới đế chế Ottoman đã nắm được thế chủ động. Họ mở rộng quyền thống trị của mình tới tận Trung Ðông và Balkan, chiếm Constantinople, hai lần vây hãm thành Viena (Áo). Nhưng từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, quyền lực của đế chế Ottoman suy yếu, Anh, Pháp, Italia thiết lập sự kiểm soát của Phương Tây ở phần lớn vùng Bắc Phi và Trung Ðông. 

Sau chiến tranh Thế giới thứ II, lại đến lượt Phương Tây bắt đầu rút lui; các đế chế thực dân biến mất; lúc đầu là chủ nghĩa dân tộc Ảrập rồi đến chủ nghĩa chính thống Hồi giáo xuất hiện; Phương Tây trở nên lệ thuộc nặng nề vào các nước vùng Vịnh về nhiên liệu. Các nước Hồi giáo giàu dầu mỏ trở nên giàu tiền của và khi muốn thì chúng cũng trở nên giàu vũ khí. Vài cuộc chiến tranh đã nố ra giữa các nước Ảrập và Israel, một nước được lập ra theo sáng kiến của Phương Tây. Trong suốt những năm 50, Pháp tiến hành gần như liên tục cuộc chiến tranh đẫm máu ở Angeri. Năm 1956, lực lượng của Anh và Pháp xâm lược Ai Cập. Năm 1958, người Mỹ tiến vào Liban, sau đó nhiều lần họ quay lại đó: và còn tấn công Libya, tham gia vào nhiều cuộc đụng độ quân sự với Iran. Ðể trả đũa những kẻ khủng bố Ai Cập và Hồi giáo, dược ít nhất ba chính phủ ở Trung Ðông ủng hộ, sử dụng vũ khí của kẻ yếu, đánh bom các máy bay và cơ sở Phương Tây, bắt con tin Phương Tây. Cuộc chiến này giữa người Ảrập và Phương Tây lên đến đỉnh cao năm 1990, khi Mỹ đưa một đội quân khổng lồ tới Vùng Vịnh để bảo vệ một số nước Ảrập chống lại cuộc xâm lăng của một nước Ảrập khác. Khi cuộc chiến tranh này kết thúc, kế hoạch hậu chiến của NATO được soạn thảo với sự cân nhắc đến những mối đe dọa và bất ổn định tiềm tàng dọc „các đường biên giới phía Nam“. 

Sự đối đầu về quân sự giữa Phương Tây và thế giới Hồi giáo kéo dài trọn một thế kỷ và vẫn không hề suy giảm. Mà đúng hơn là, trái lại, nó có thể còn gay gắt hơn. Cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đã để cho một số nước Ảrập cảm thấy tự hào rằng Saddam Hussein đã tiến công Israel và đương đầu với Phương Tây. Nhưng nó cũng làm cho nhiều người cảm thấy bị lăng nhục và phẫn nộ trước sự có mặt quân sự của Phương Tây tại Vịnh Persic, trước ưu thế quân sự khá lớn của Phương Tây và trước việc họ không đủ khả năng làm chủ vận mệnh của chính mình. Thêm vào đó, nhiều nước Ảrập, không chỉ các nước xuất khẩu dầu lửa, đã đạt được trình độ phát triển kinh tế và xã hội không còn phù hợp với các hình thức cai trị chuyên quyền nữa. Những cố gắng nhằm thực hiện chế dộ dân chủ ở đó cũng trở nên ngày càng mạnh mẽ hơn. Ðã có một số cởi mở nhất định trong hệ thống chính trị của một số nước Ảrập. Nhưng được hưởng lợi lớn nhất của những cởi mở này là những người chính thống Hồi giáo. Tóm lại, trong thế giới Ảrập, nền dân chủ Phương Tây làm tăng các lực lượng chính trị chống lại Phương Tây. Ðiều này có thể là một hiện tượng quá độ, nhưng chắc chắn nó làm cho mối quan hệ giữa các nước Hồi giáo và Phương Tây trở nên phức tạp thêm. 

Những mối quan hệ đó cũng bị phức tạp thêm bởi các nhân tố dân số. Mức tăng dân số còn khá cao trong các nước Ảrập, đặc biệt ở Bắc Phi, đã làm tăng số người di cư sang các nttớc Tây Âu. Ðến lượt mình, sự dồn ứ di dân diễn ra trên cái nền xóa bỏ từng bước ranh giới bên trong giữa các nước Tây Âu đã tạo nên những tranh cãi chính trị gay gắt. Tại Italia, Pháp và Ðức, tệ phân biệt chủng tộc mang hình thức ngày càng trắng trợn và từ năm 1990, phản ứng chính trị và bạo lực đối với người Ảrập và Thổ Nhĩ Kỳ không ngừng tăng lên. 

Trên cả hai mặt trận, người ta đều nhìn thấy sự đụng độ giữa các nền vân minh qua tác động qua lại giữa thế giới Hồi giáo và thế giới Phương Tây. Ông M.J. Akbar, một nhà báo Ấn Độ theo Hồi giáo nhận xét: „Phương Tây chắc chắn sẽ phải đối đầu với thế giới Hồi giáo. Chính cái thực tế về sự truyền bá rộng rãi thế giới Hồi giáo từ vùng Bắc Phi tới Pakistan sẽ dẫn tới cuộc đấu tranh cho một trật tự thế giới mới“. B. Lewis cũng đi đến một kết luận tương tự: „Trước chúng ta là một tinh thần và một phong trào hoàn toàn khác, không chịu sự khống chế của chính trị và các chính phủ muốn lợi dụng chúng. Đó đúng là sự đụng độ giữa các nền văn minh. Có thể là phản ứng không duy lý nhưng được quy định về mặt lịch sử của kẻ cạnh tranh cổ xưa của chúng ta sẽ chống lại truyền thống Do Thái - Kito giáo của chúng ta, hiện tại trần thế của chúng ta và sự bành trướng ra toàn cầu của cái này và cái kia“[2]. 

Trong trường kỳ lịch sử, nền văn minh Ảrập Hồi giáo nằm trong sự tương tác đối kháng thường xuyên với những người đa thần giáo, những người theo thuyết vật linh và ngày nay chủ yếu là các cư dân da đen theo Thiên chúa giáo ở phương Nam. Trong quá khứ, sự đối kháng này thể hiện qua hình ảnh người mua bán nô lệ Ảrập và người nô lệ da đen. Ngày nay, nó dược phản ánh qua cuộc nội chiến đang tiếp diễn ở Suđan giữa người Ảrập và người da đen, qua cuộc đấu tranh vũ trang ở Sad giữa quân nổi loạn được Liby ủng hộ và chính phủ, qua các quan hệ căng thẳng giữa người Kito Ðông chính giáo và người Hồi giáo ở mũi Châu Phi, những cuộc xung đột chính trị dẫn tớl đụng độ đổ máu giữa người Hồi giáo và người Kito giáo ở Nigiena. Quá trình hiện đại hóa và mở rộng Kito giáo ở Châu Phi chỉ làm tăng khả năng xảy ra bạo lực ở dọc tuyến này. Triệu chứng về sự gay gắt của cuộc xung đột này là bài diên văn của Giáo hoàng John Paul II ngày 12-2-1993 tại Khartum, trong đó ông công kích những hành động của chính phủ Hồi giáo Suđan chống lại thiểu số Kitô giáo ở nước đó. 

Trên đường biên giới phía Bắc của thế giới Hồi giáo, xung đột triển khai chủ yếu giữa người Ðông chính giáo và người Hồi giáo. Ở đây cần đề cập đến cuộc tàn sát lẫn nhau ở Bosnia và Sarajevo, bạo lực giữa người Serb và người Albani, mối quan hệ phân biệt đối xử giữa người Bungari và thiểu số người Thổ Nhĩ Kỳ ở Bungari, đụng độ đổ mÁu giữa người Osetia và Ingush, người Armenia và người Azerbaizan, xung đột giữa người Nga và người Hồi giáo ở Trung Á để bảo vệ các lợi ích của Nga. Tôn giáo hâm lại tính tự đồng nhất sắc tộc đang phục hồi và tất cả những điều đó làm cho người Nga lo ngại hơn về an ninh ở các đường biên giới phía Nam của họ. Archie Roosevelt đã cảm thấy mối lo lắng này. Ông viết: „Phần lớn lịch sử nước Nga liên quan tới cuộc đấu tranh giữa người Slave và các dân tộc gốc Thổ trên đường biên giới của họ cách đây hơn một nghìn năm khi nhà nước Nga được thiết lập. Trong cuộc đấu tranh kéo dài nghìn năm này của người Slave với những người láng giềng Phương Ðông của họ, chìa khóa để đạt được sự hiểu biết không phải chỉ là lịch sử Nga mà là chất Nga. Ðể hiểu được những thực tế nước Nga ngày nay, người ta không được quên nhóm sắc tộc Thổ đã thu hút sự chú ý của người Nga suốt nhiều thế kỷ“. [3] 

Sự đụng độ giữa các nền văn minh bắt rễ sâu ở các vùng khác tại Châu Á. Cuộc đấu tranh đã bắt rễ sâu vào lịch sử giữa người Hồi giáo và Hmdu ở Tiểu lục địa Ấn Ðộ ngày nay thể hiện rõ không chỉ trong sự cạnh tranh giữa Pakistan và Ấn Độ mà còn trong sự tăng cường thù địch tôn giáo giữa các nhóm Hindu ngày càng cuồng chiến và thiểu số người Hồi giáo Ấn Ðộ. Việc phá hủy nhà thờ Hồi giáo Ayodhya tháng 12-1992 đã đặt ra vấn đề là liệu Ấn Độ có còn là một nhà nước thế tục và dân chủ hay đã trở thành một nhà nước Hindu. Ở Ðông Á, Trung Quốc đưa ra những yêu sách lãnh thổ gần như với tất cả các nước láng giềng. Nó đã trấn áp tàn nhẫn những tín đồ Phật giáo ở Tây Tạng và giờ đây sẵn sàng trừng trị thẳng tay đối với thiểu số người Hồi giáo nói tiếng Thổ. Với cuộc Chiến tranh lạnh kết thúc, những mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc lại thể hiện đặc biệt mạnh trong các lĩnh vực như nhân quyền, thương mại và vấn đề phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, và không có bất cứ hi vọng nào dịu đi. Như Ðặng Tiểu Bình đã khẳng định trong năm 1991, „cuộc Chiến tranh lạnh mới giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn đang tiếp diễn“. 

Ý kiến của Đặng Tiểu Bình cũng có thể áp dụng cho các quan hệ đang ngày càng phức tạp thêm giữa Nhật Bản và Mỹ. Ở đây, những khác biệt văn hoá cũng làm tăng xung đột về kinh tế. Mỗi bên đều lên án sự phân biệt chủng tộc của bên kia, nhưng ít nhất là về phía Mỹ, mối ác cảm không mang tínhchất chủng tộc mà mang tính chất văn hoá. Thật khó hình dung về hai xã hội cách xa nhau về các giá trị cơ bản , tâm thế và phong cách ứng xử. Những bất đồng về kinh tế giữa Mỹ và Châu Âu không kém phần nghiêm trọng, nhưng chúng không nổi bật về chính trị và đậm nét về tình cảm, bởi vì mâu thuẫn giữa văn hóa Mỹ và văn hóa Châu Âu kém gay gắt hơn nhiều so với giữa văn minh Mỹ và văn minh Nhật Bản. 

Khả năng tiềm tàng xảy ra bạo lực trong sự tương tác giữa các nền văn minh khác có thể thay dổi. Sự cạnh tranh kinh tế chiếm ưu thế trong quan hệ giữa hai tiểu văn minh Mỹ và Châu Âu cũng như trong quan hệ giữa Phương Tây nói chung và Nhật Bản. Ðồng thời ở Châu Âu, việc các xung đột sắc tộc đang lan rộng dẫn tới các cuôc „thanh lọc sắc tộc“ đã không còn là chuyện lẻ tẻ nữa. Chúng thường hay diễn ra nhất giữa các nhóm người thuộc các nền văn minh khác nhau trong trường hợp đó chúng mang hình thức cực đoan nhất. Những ranh giới đã hình thành một cách lịch sử giữa các nền văn minh thuộc lục địa Châu Âu giờ đây lại bùng lên ngọn lửa xung đột. Các xung đột này đạt tới mức căng thẳng tột độ dọc các dường ranh giới của khối Hồi giáo, trải ra theo hình lưỡi liềm trên vùng giữa Bắc Phi và Trung Á. Nhưng bạo lực cũng đã xảy ra qua các vụ xung đột giữa một bên là người Hồi giáo và một bên là những người Serb theo Ðông chính giáo ở Balkan, người Do Thái ở Israel, người Hindu ở Ấn Ðộ, người Phật giáo ở Mianma và người Thiên chúa giáo ở Philippin. Các đường biên giới của thế giới Hồi giáo khắp nơi đều đẫm máu. 


Chú thích 
[l] Weidenbaum M. Trung Quốc lớn hơn: Siêu cường kinh tế tiếp theo?. Trung tâm Nghiên cứu Doanh nghiệp Mỹ. Ðại học Washington. „Những vấn đề đương đại”. Loạt sách 57. tháng 1.1993, tr.2-3.
[2] Lewis B. Những nguồn gốc của cơn thịnh nộ Hồi giáo. "Nguyệt san Đại Tây Dương“, tập 226, tháng 9.1990. tr. 60; „Thời báo“, 15.6.1992, tr.24-28.
[3] Roosevelt A. Vì lòng tham hiểu biết. Boston, 1988, tr.332-333.
 
***
Nguồn: talawas.com