3. Lập luận của Mises 

Trong bài viết năm 1920 cũng như những tác phẩm về sau của mình, Mises hiểu chủ nghĩa xã hội đơn giản là một hệ thống trong đó phương tiện sản xuất thuộc sở hữu của một chính quyền trung ương nào đó: thế thì vấn đề còn bỏ ngỏ là liệu hệ thống sản xuất có nên được định hướng theo những cứu cánh mang tính cá nhân hay không (giống như lý thuyết của chủ nghĩa xã hội thị trường được đề cập trên kia) hay là theo những cứu cánh một phần bị quyết định bởi các nhà lãnh đạo chính trị. Theo quan điểm của Mises, trong cả hai trường hợp đều xuất hiện vấn đề tính toán. Lý do là vì giải pháp cho vấn đề kinh tế đòi hỏi một thước đo giá trị nếu phương tiện sản xuất muốn được sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đạt tới bất cứ một cứu cánh nào. Mises lập luận rằng chỉ có hệ thống thị trường, trong đó cơ chế giá cả phản ánh mức hy sinh tương đối của các nhân tố sản xuất, mới có thể làm được điều đó. Nếu thiếu hệ thống báo tín hiệu này, các chính quyền trung ương sẽ không có gì để lấy làm hoa tiêu cho hành động của họ, và thế là các quyết định của họ nhất định mang tính tuỳ tiện. Do đó lập luận của Mises về “tính bất khả thi" của chủ nghĩa xã hội là một luận đề cực đoan đặc biệt vì nó cho rằng ngay cả khi các nhà lãnh đạo chính trị, chứ không phải của những người tiêu dùng cá biệt, quyết định được đâu là mục tiêu cuối cùng, thì vẫn còn một vấn đề về phân bổ nguồn lực cho quá trình sản xuất ra những kết quả cuối cùng ấy khi không có các mối quan hệ thị trường đan xen trong toàn bộ các hoạt động kinh tế. 

Đối với Mises, xã hội loài người khác xa một thể hữu cơ bị chi phối bởi những quy luật máy móc: xã hội ấy được kết thành từ những cá nhân hoạt động không ngừng, đang mong muốn thoả mãn nhu cầu của bản thân, mà hành động và lựa chọn của họ là ngọn nguồn của mọi giá trị. [1] Cho dù, hành động con người có mang tính kinh tế xét theo nghĩa hẹp hay không, tức là liên quan đến việc tối đa hoá những lợi lộc nhãn tiền đo bằng tiền bạc, thì vẫn luôn là hợp lý trong chừng mực nó liên quan đến việc sử dụng các phương tiện để đạt tới những cứu cánh được quyết định một cách chủ quan. Tuy nhiên, trong giới hạn của khoa học, chúng ta có thể đánh giá các phương tiện được lựa chọn nhằm đạt tới các cứu cánh ấy. Do đó, Mises dễ dàng chứng minh rằng một xã hội rộng lớn đòi hỏi một thị trường nhằm thiết lập các tỷ lệ trao đổi khách quan và một chế độ tiền tệ để truyền tải các thông tin về những giá trị ấy. Chỉ trong một nền rất kinh tế nhỏ, như một hộ gia đình, thì đầu óc con người bình thường mới có thể tự biết được các giá trị. [2]Hơn nữa, nếu chúng ta có thể giả định ý thích hay công nghệ sản xuất là ít hoặc không thay đổi thì tri thức kinh tế tương ứng với việc tổ chức một thứ như nền kinh tế hộ gia đình mới có thể được cụ thể hóa và trở nên có giá trị đối với một hình thức kế hoạch hoá hợp lý. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy một cách chi tiết hơn dưới đây, điều này là mô tả hoàn toàn sai lầm về những nền kinh tế hiện hành, không chỉ theo nghĩa về kích thước, mà, quan trọng hơn, theo nghĩa chúng là những thể biến động không ngừng và có tính bất trắc. Chính tính không thể dự đoán trước được của xã hội, so với một hệ vật lý ổn định, khiến việc kế hoạch hoá là không thể khả thi. 

Tất nhiên, Mises thừa nhận rằng ngay cả trong một xã hội xã hội chủ nghĩa thì vẫn có hàng tiêu dùng cá nhân có giá cả gắn liền với chúng, và do đó, được cung cấp qua các mối quan hệ tiền tệ. Nhưng vì mức độ dùng tiền sẽ bị hạn chế rất chặt chẽ nên tác dụng của sự tính toán duy lý kinh tế sẽ bị bóp nghẹt. Điều này có nghĩa là vì các nhân tố sản xuất không được định giá thông qua thị trường nên sự phân phối thu nhập cho mỗi nhân tố buộc phải bị quyết định một cách tuỳ tiện bởi nhà nước. Và điều này ngăn cản không cho thông tin về cách sử dụng tối ưu các nguồn lực đến được các tác nhân kinh tế. 

Những thông tin này chỉ có được trong một thế giới bất biến: một thế giới trong đó chi phí sản xuất có thể được coi như không đổi theo thời gian. Chính thế giới kinh tế này được mô tả dưới hình thức đại số trong lý thuyết kinh tế chính thống về so sánh tĩnh. Nhưng điểm cốt tuỷ mà Mises muốn làm rõ là một nền kinh tế không phải là một thực thể tĩnh với những đặc điểm được tái tạo đi tái tái tạo lại theo một cơ chế máy móc. Trong một cuộc thảo luận công khai về lý thuyết chính thống, Mises nói rằng trong thế giới tĩnh, vấn đề tính toán không còn tồn tại vì lúc này “những sự kiện giống hệt nhau trong đời sống kinh tế cứ lặp đi lặp lại liên tục". [3] Trong một tác phẩm sau này, Mises viết: 

Một hệ thống mà con người trong đó không mắc sai lầm bao giờ, thì đó là một thế giới của những người máy câm lặng không biết suy nghĩ; đó không phải xã hội loài người, đó là một tổ kiến. [4] 

Ngược lại những mô tả trên, đối với Mises một nền kinh tế không tự nhân bản liên tục như một bộ gen đã được sắp đặt trước, mà chịu sự chi phối của những thay đổi thường hằng trong đó mỗi hành động của con người không phải sự lặp lại, mà mang tính suy đoán (speculative)[5] Do đó, lý thuyết kinh tế giải thích những hành động có tính toán ấy được phối hợp với nhau như thế nào theo thời gian; nó không mô tả một thế giới hài hoà tuyệt đối trong đó mọi quá trình nêu trên đã hoàn toàn chấm dứt. Tất nhiên là một thế giới như thế khiến cho sự cạnh tranh thực thụ trở thành vô dụng. 

Thế nhưng, khi các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa chĩa mũi giáo tấn công Mises, họ quên mất điểm này và lại giả định rằng các “quy luật" của kinh tế học, cái mà các dự án xã hội chủ nghĩa nhất định phải tuân theo, là các quy luật diễn tả một thế giới cân bằng tĩnh. Đây đúng là cái mà Mises xem là các định lý kinh tế, ví dụ, luật cung và cầu, lợi ích cận biên giảm dần, lợi suất giảm dần của nhân tố, v.v., những cái được xem như là những chân lý tiên nghiệm, nhưng ông lại quan tâm chủ yếu đến việc hành động con người, hành động nhằm theo đuổi những mục đích có tính toán của các chủ doanh nghiệp, vận hành ra sao trong cương giới được thiết lập bởi những chân lý ấy. Trong bối cảnh này, những thể chế xã hội như sở hữu tư nhân, tiền tệ, và các “hãng" trở thành các khí cụ để ứng phó với sự thay đổi và tính bất trắc của một thế giới tất yếu không hoàn hảo. 

Đây là lúc Mises thể hiện sự chống đối của ông đối với chủ nghĩa xã hội một cách hoàn toàn rõ ràng, thực sự với một mức độ gần giống những người hay cáu kỉnh, ông chưa bao giờ làm rõ hẳn ra toàn bộ cở sở lý thuyết và triết học rốt ráo của những phê phán của ông về cái thiên kiến nghiêng về sự cân bằng của kinh tế chính trị học chính thống; cái mà về sau Hayek sẽ làm. Một lý thuyết chính thống về sự xác định giá cả thông qua thị trường ít hay nhiều bị pha trộn với một lý thuyết cực đoan (radical) về hành động con người và quá trình thị trường. 

Lý do của khiếm khuyết này chủ yếu mang tính lịch sử. Các giải pháp xã hội chủ nghĩa phức tạp nhất cho vấn đề tính toán, cái phụ thuộc vào kỹ thuật phân tích cân bằng, xuất hiện sau khi bài tiểu luận đầu tiên của Mises được công bố. Hơn nữa, trong tác phẩm tăng cường cho phê phán của mình, cuốnChủ nghĩa xã hội đồ sộ và buồn tẻ, Mises đã che đi một kho báu phân tích lý thuyết tuyệt hảo do đã trùm lên đó một tấm màn dày đặc những xã hội học và tâm lý học tư biện cao độ (hiểu theo nghĩa lý thuyết). Mọi bệnh tật của thế giới hiện đại, từ sự đảo điên trong quan hệ tình dục đến chế độ bạo chúa ở Nga, dường như đều là sản phẩm của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Tại điểm này, chủ nghĩa xã hội bị tố cáo là “... không gì khác ngoài sự suy lý phô trương của những cơn oán giận nhỏ nhen". [6] Không nghi ngờ gì nữa, chính cái phong cách hiếu chiến quá đáng này đã làm suy giảm tác động to lớn của những lập luận của Mises. Đơn giản là trong suốt nhiều năm trời, chúng không được xem xét tới một cách nghiêm túc. 

Tuy nhiên, vẫn có nhiều điều đáng khai thác trong chiều sâu thẳm của tác phẩm Chủ nghĩa xã hội nhằm tìm ra kho báu chứa đựng những điều thông thái. Sử dụng các thuật ngữ kinh tế, Mises nhấn mạnh rằng chức năng của tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship), tức là việc phối hợp các hoạt động kinh tế thông qua một quá trình kinh tế cạnh tranh, nhất định phải được thực hiện trong một xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều này là kết quả trực tiếp từ những nhận định của Mises rằng tri thức kinh tế không phải là gì bất biến với công nghệ cho trước. Nhưng tất nhiên, cấu trúc chính trị của xã hội xã hội chủ nghĩa ngăn cản việc hình thành một giai cấp các nhà doanh nghiệp chuyên nghiệp. [7] Bởi vì giai cấp này, luôn năng động về mặt kinh tế, nhất định phải mạo hiểm với tài sản của chính họ, nên sự vắng mặt quyền sở hữu tư nhân về phương tiện sản xuất làm xuất hiện vấn đề động lực khuyến khích làm việc cực kỳ nan giải cho một xã hội bị kế hoạch hoá. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, các lý thuyết gia “duy lý" của một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhận thức được rất rõ vấn đề tinh thần doanh nghiệp và động lực làm việc. 

Xa hơn nữa, Mises đặc biết nhấn mạnh rằng các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện hành không thể đạt được một mức năng suất nào đó, chính xác là vì vấn đề tính toán đã được giải quyết từng phần bởi những nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xung quanh, những nền kinh tế cung cấp các tín hiệu giá cả. [8]Điều này cũng đúng với các doanh nghiệp quốc doanh trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, chúng có khả năng mua lao động và nguyên liệu ở mức giá đã được thiết lập trong một môi trường mang tính thị trường. 

Ở một mức độ chính trị tổng quát hơn, Mises thách thức chủ nghĩa bình quân của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Cần phải lưu ý rằng, vì Mises là một người theo chủ nghĩa thực chứng không khoan nhượng và không phải là người theo chủ nghĩa kinh nghiệm trong những lĩnh vực liên quan đến giá trị đạo đức, nên không phải trên cơ sở của đạo đức học, mà chính từ những lập luận kinh tế vị lợi, ông cho rằng sự bất bình đẳng giữa sự phân công lao động là cần thiết để thu hút các nhân tố đến nơi có thể sử dụng chúng với năng suất cao nhất. [9] Ông đả phá sự phân chia giữa sản xuất và phân phối thu nhập của các nhà xã hội chủ nghĩa và cả những người không phải xã hội chủ nghĩa, như John Stuart Mill chẳng hạn. Quan điểm của ông là sự phân phối thu nhập giữa các nhân tố hoàn toàn là kết quả của sự đóng góp của chúng vào quá trình sản xuất. Lại một lần nữa, với chủ nghĩa chủ quan về đạo đức của Mises, không thể có một nguyên lý đạo đức ngoại biên nào ủng hộ cho các mức thu nhập khác nhau. 
Trên thực tế, Mises đã có một quan điểm đơn giản về bản chất con người – “tính vị kỷ (egoism) là quy luật của xã hội’. [10] Nhưng trong khi các triết gia chính trị vẫn thường suy diễn từ cái quan niệm về con người hám lợi rằng một chế độ hùng mạnh toàn diện nhất định phải tạo ra một cách nhân tạo một trật tự bất tự nhiên đối với con người, thì Mises lại tuyên bố rằng tính vị kỷ không những vô hại, mà còn là thiết yếu đối với sự tiến hoá tự nhiên của một trật tự kinh tế. Trên thực tế, ông phê phán mạnh mẽ cái mà ông nghĩ là đạo đức về nghĩa vụ và đức hy sinh kiểu Kant tiêu cực; ông coi cái đức hạnh “ngu xuẩn" này như là mầm mống của đức tin xã hội chủ nghĩa. [11] Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phân tích của Mises về mối liên hệ qua lại giữa đức hạnh và chủ nghĩa tư bản phảng phất sự tinh tế của Adam Smith. 

Thế nhưng, điều quan trọng là nỗ lực của Mises muốn tái lập quan điểm tự do cổ điển truyền thống rằng các nguyên lý thị trường không nằm trong quyền lợi của những người hữu sản, mà rất nhiều trong số họ là những kẻ chuyên cần tìm kiếm những đặc quyền do vị thế của họ mang lại, mà vì lợi thế của các thành viên vô danh trong bất cứ xã hội nào. Chắc chắn là bản thân Mises chưa bao giờ nghĩ tới vần đề hợp pháp hoá việc đòi quyền sở hữu tài sản lúc nguyên khai [12] , một vấn đề đã gây khó dễ cho các triết gia của phái tự do cổ điển sau này, nhưng, dù sao thì chúng ta cũng không nên đánh giá thấp cách giải thích đậm tính công cụ của ông về tầm quan trọng của quyền tư hữu tài sản như là một lực lượng thúc đẩy tiến bộ của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế rằng sự biện hộ ban đầu của ông đối với xã hội tư bản chủ nghĩa, rằng một người bất kỳ nào cũng có lợi hơn từ xã hội ấy so với các hình thức xã hội khác từng được biết, tự nó làm nảy sinh một số vấn đề. Chính tính chất vô danh đó của xã hội tư bản chủ nghĩa đồng nghĩa với việc không một cá nhân nào có động cơ trực tiếp thúc đẩy hoặc bảo tồn xã hội ấy. Thực vậy, điều mà Mises cứ khăng khăng bảo vệ, là tính phổ quát của chủ nghĩa vị kỷ, cũng đồng nghĩa rằng mỗi cá nhân không thể bị lên án (mang tính đạo đức) do kiếm chác được những đặc quyền đặc lợi từ vị thế của họ, mà điều này, như trong một phân tích của những người theo Mises cho thấy, có tính phá hoại chính xã hội ấy trong dài hạn. Do đó, tồn tại vấn đề “hàng hoá công cộng" nan giải hầu như không thể giải quyết được trong triết học chính trị tự do cổ điển. 

Một sự thật hiển nhiên là các lý thuyết gia xã hội chủ nghĩa phi Marxist cảm thấy bối rối trước những hàm ý nêu ra trong bài báo đầu tiên của Mises; Lange đã ca ngợi gần như thái quá nhãn quan sáng suốt của Mises về bản chất vấn đề tính toán. Nhưng rõ ràng là họ đã không hiểu một cách chính xác cái ông đang công kích. Họ nhất trí rằng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ phải giải quyết cùng những vấn đề mà thị trường đang thường xuyên giải quyết cho chủ nghĩa tư bản, nhưng họ lại nghĩ là, dưới hình thức này hay hình thức khác, các kỹ thuật phân tích kinh tế truyền thống có thể được áp dụng cho một nền kinh tế không có các thể chế xã hội mang tính tư bản chủ nghĩa như quyền tư hữu, các hãng và thị trường vốn; mà lại có ít hơn những bất bình đẳng đáng phải loại trừ của các xã hội tư bản chủ nghĩa truyền thống. Mặc dù có chú ý đến điểm cuối cùng này, nhưng hầu như tất cả đều nhất trí rằng vẫn cần phải có sự bất bình đẳng nhất định trong thu nhập: nhưng chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hấp dẫn nhân tố lao động tới những nơi sử dụng chúng có năng suất cao nhất mà thôi. 

Sự đáp trả của các nhà xã hội chủ nghĩa đối với Mises thể hiện dưới hai hình thức có quan hệ mật thiết với nhau. Hình thức thứ nhất, một mô hình “thống kê", giả định rằng vấn đề kinh tế nhằm thoả mãn các nhu cầu của người tiêu dùng ở mức chi phí thấp nhất có thể, có thể được giải quyết một cách trực tiếp nhờ những giải tích kinh tế không cần tới thị trường, và hình thức thứ hai, được Lange phát triển tới một trình độ cao, chấp nhận thể chế thị trường nhưng giả định là một xã hội dựa vào thị trường có thể vận hành được mà không có các đặc điểm tệ hại của xã hội tư bản chủ nghĩa như vẫn thấy. Cách tiếp cận sau tỏ ra có nhiều ảnh hưởng hơn, nhưng cả hai đều chứa đựng những đặc điểm tương tự nhau về cấu trúc. 

Vấn đề trên liên quan mật thiết đến bản chất của tri thức kinh tế, nghĩa là, thông tin về sở thích của người tiêu dùng và chi phí sản xuất. Trong thực tế, lúc này các nhà xã hội chủ nghĩa nói rằng, nếu một người biết tất cả những dữ liệu này, thì vấn đề kinh tế trở thành vấn đề tính toán sắp xếp các nhân tố sản xuất và do đó có thể sản xuất ra một đầu ra cho trước một cách máy móc. Một “trạng thái cứu cánh" (‘end-state’) [13] của hợp tác kinh tế hoàn hảo được thiết lập, trong đó không thể chuyển dời một nhân tố sang một hoạt động khác mà không gây nên sự thiệt hại ròng trong sự thoả mãn của người tiêu dùng. Trạng thái này có thể được định nghĩa là một “trạng thái cứu cánh" cân bằng. Một trong những nhân vật đương đại xuất sắc đại biểu cho quan điểm này, Frank Hahn, trình bày vấn đề súc tích hơn nhiều các lý thuyết gia của thập niên 1930 trong một đoạn như sau: 

Sự cân bằng của nền kinh tế là một trạng thái tại đó các quyết định độc lập của các hộ gia đình và hãng là tương thích với nhau. Do đó, có một bộ giá cả sao cho nếu chúng phát huy tác dụng, thì có một lựa chọn tối đa hoá lợi nhuận của các hãng và một lựa chọn tối đa hoá lợi ích của các hộ gia đìnhsao cho tổng cầu về bất cứ hàng hoá nào cũng bằng với số lượng vốn có của chúng, cộng với số lượng được sản xuất ra. [14] 
Trong mô hình này, thời gian, tính bất trắc, và sự kém hiểu biết bị loại bỏ và mỗi người tham gia giao dịch được giả định là người chấp nhận giá, nghĩa là không thể gây ảnh hưởng đến giá cả mà buộc phải chấp nhận mức giá do một thị trường phi nhân tính đưa ra. Do vậy, mọi giá cả đều “chính xác". 

Đây chính là cái trạng thái hoàn hảo mà Taylor, Lange và Dickinson đã cố gắng phấn đấu làm sáng tỏ trong các phiên bản về chủ nghĩa xã hội của họ. Đó là lời giải cho vấn đề tính toán. Nhưng nếu như vậy, vì sao họ phản đối xã hội thị trường? Thật đầy nghịch lý, câu trả lời là, về mặt logic, không đòi hỏi phải có thị trường mới tạo ra được cái trạng thái cứu cánh hài hoà và lý tưởng ngầm định trong lý thuyết về thị trường hoàn hảo. Trong nhãn quan của các nhà xã hội chủ nghĩa (và điều này tất nhiên là đúng) các thị trường trong thực tế chẳng bao giờ hoàn hảo cả. Bỏ sang một bên vấn đề bất bình đẳng về nguồn lực, rõ ràng là trong các thị trường thực, độc quyền sẽ tồn tại và những yếu tố công nghệ nào đó có thể đem lại cho các hãng một lợi thế mà sự cạnh tranh không thể nào loại trừ được; do đó, kết quả là nhiều người tham gia giao dịch sẽ có khả năng gây ảnh hưởng đến giá cả. Không phải tất cả những thứ kém hoàn hảo này đều là kết quả của sự can thiệp của nhà nước. Thêm vào đó, sự bất trắc và kém hiểu biết có mặt ở khắp mọi nơi ngăn không cho sự điều chỉnh xảy ra tức thời như trong lý thuyết thuần tuý. Tất cả những điều này nhất định dẫn tới việc thu nhập của các nhân tố (tiền công, địa tô và tiền lãi, v.v) sẽ không đúng bằng lượng cần thiết để giữ chúng hoạt động, hay nói cách khác, sẽ có cơ hội cho lợi nhuận thuần tuý. Các nhà xã hội chủ nghĩa khẳng định rằng những khiếm khuyết này có thể được loại trừ mà không làm giảm sản lượng. 

Đây chính là vấn đề trọng yếu mà những đối thủ của Mises gặp phải. Nỗ lực đầu tiên và kém thành công nhất nhằm tái tạo trạng thái cứu cánh lý tưởng này, trên thực tế, mang tính kinh tế lượng thuần tuý và cố gắng bỏ qua hoàn toàn các ý niệm gần gũi về hành động kinh tế của con người. Trong mô hình đầu tiên của Taylor [15] , một cơ quan trung ương sẽ tinh toán “bằng kỹ thuật cao" sao cho vấn đề kinh tế quen thuộc là lựa chọn (một cách chủ quan) giữa các cách sử dụng khác nhau cùng một nguồn lực trở thành một vấn đề “thiết kế máy móc", vấn đề dàn xếp từ những phương tiện cho trướcđạt tới những cứu cánh cho trước. Mô hình này cho rằng nhờ một quá trình ước lượng phức tạp, về mặt lý thuyết có thể có khả năng tái tạo những kết quả giống như được các thị trường hoàn hảo tạo ra và do đó loại bỏ được những mất mát phúc lợi tất yếu đi liền với các thị trường không hoàn hảo hiện thời. 

“Giải pháp" trên cho vấn đề tính toán đã được Hayek xem xét trong bài luận nổi tiếng của ông về chủ nghĩa xã hội, bài “Tình trạng hiện thời của Cuộc tranh luận". Nhưng trong bài viết này, Hayek đã thừa nhận một điều quan trọng mà đã bị cả những người ủng hộ lẫn không ủng hộ thị trường hiểu nhầm. Về giải pháp toán học, ông viết: “Bây giờ phải thừa nhận rằng đây không còn là điều bất khả thi xét theo nghĩa cho đó là một mâu thuẫn về mặt logic" [16] . Ông tiếp tục nói rằng: “để loại bỏ giải pháp này với tư cách một giải pháp không khả thi và phi thực tế về mặt nhân văn, ta chỉ cần thử mường tượng xem trên thực tế sự áp dụng phương pháp này sẽ hàm ý điều gì" [17] . Việc có thể chứng minh được tính chặt chẽ về logic của một mô hình kinh tế hài hoà nhân tạo như được thảo luận trên đây nằm ngoài phạm vi cuộc tranh cãi, nhưng điều này khác xa với việc nói rằng có thể tạo ra một lý thuyết xã hội vạch ra cách hiện thực hoá điều này khi không có các thể chế tư bản chủ nghĩa tiêu biểu. Vì vậy, lập luận của Hayek không phải là những khó khăn chỉ đơn thuần là những khó khăn thực tiễn: mà nó nói rằng chính những bất cập về lý thuyết đã làm những khó khăn này trở nên dễ thấy và không thể khắc phục được. 

Do đó, mặc dù trong bài viết của ông, Hayek nói đến những khó khăn thực tế của việc thu thập số liệu - “chỉ riêng nhiệm vụ xây dựng bảng biểu thống kê thôi đã vượt xa bất cứ mọi nhiệm vụ kiểu này từ xưa tới nay" [18] – và của việc phải giải một lượng khổng lồ các phương trình khi hệ thống sản xuất của nền kinh tế hiện đại bị tập trung hoá, với hàng triệu loại mặt hàng, nhưng những đoạn quan trọng hơn lại là những đoạn liên quan đến các vấn đề mang nặng tính lý thuyết hơn. Lý do tại sao những khó khăn thực tế này nhất định nảy sinh bắt nguồn từ bản chất phân tán của thông tin kinh tế, bản chất liên tục thay đổi của nhưng dữ liệu này (một ví dụ là không thể nào giám sát được khẩu vị của người tiêu dùng) và từ thực tế là cơ quan trung ương không thể tự có những kiến thức về chi phí sản xuất, mà những kiến thức này phải được phát hiện ra nhờ các tác nhân kinh tế. 

 

 

Chú thích

[1]Chủ nghĩa xã hội, tr. 113. 
[2]‘Tính toán kinh tế trong Khối thịnh vượng chung xã hội chủ nghĩa’, tr. 103. 
[3]Sđd, tr. 109. 
[4]Hành động con người, New Haven, Nxb trường Đại học Yale, 1963, tr. 248. 
[5]Chủ nghĩa xã hội, tr. 205-208. 
[6]Sđd, tr. 457. 
[7]Sđd, tr. 212-216. 
[8]Sđd, tr. 119. 
[9]Sđd, tr. 181-184. 
[10]Sđd, tr. 402. 
[11]Sđd, tr. 430-434. 
[12]Nghĩa là vấn đề về quyền sở hữu ở thời điểm đầu tiên trong lịch sử nảy sinh quan hệ sở hữu. (ND)
[13]Hoặc “trạng thái khi đạt được mục đích cuối cùng." (ND) 
[14]‘Lý thuyết Cân bằng tổng quát’, trong D. Bell và I. Kristol (eds.), Cuộc khủng hoảng trong lý thuyết kinh tế, New York, Basic Books, 1981, tr. 125. In nghiêng trong nguyên bản. 
[15]‘Định hướng sản xuất trong một Nhà nước xã hội chủ nghĩa’, tr. 7-9. 
[16]‘Tình hình hiện thời của cuộc tranh luận’, trong Kế hoạch hoá kinh tế tập thể chủ nghĩa, tr. 207.
[17] Sđd, tr. 208.
[18] Sđd, tr. 209-210. 

***

Nguồn: talawas.org