Kinh tế học thí nghiệm và ý nghĩa

Hiểu một cách đơn giản kinh tế học thí nghiệm ứng dụng các phương pháp thí nghiệm để nghiên cứu các câu hỏi kinh tế. Dữ liệu thu thập trong cuộc thí nghiệm được sử dụng để ước lược quy mô ảnh hưởng của mẫu, kiểm định tính vững của các lý thuyết kinh tế, và nhận biết các cơ chế thị trường. Các thí nghiệm kinh tế thường sử dụng tiền tệ như một yếu tố thúc đẩy động cơ của đối tượng, và mô phỏng các động cơ thế giới thực. Phòng thí nghiệm cung cấp môi trường điều chỉnh và cho phép các nhà nghiên cứu đo lường tác động của sự thay đổi các thể chế ngoại sinh trong khi đảm bảo các điều kiện ceteris paribus (yếu tố khác không đổi). Các thí nghiệm được sử dụng nhằm giúp các nhà kinh tế nhận thức được tại sao thị trường hoạt động và hoạt động như thế nào cũng như các chức năng hệ thống trao đổi khác.

 

Trước đây, kinh tế học được xem như là một khoa học phi thí nghiệm và phải dựa vào trường dữ liệu sẵn có để có thể nghiên cứu phân tích các vấn đề hoặc đề ra sự lựa chọn chính sách (Samuelson và Nordhaus, 1985; trích dẫn bởi Friedman và Sunde, năm 1994). Tuy nhiên, điều này đã được nhận diện như một trở ngại đối với sự phát triển của kinh tế học như một ngành khoa học, hạn chế khả năng thí nghiệm các lý thuyết kinh tế và quan điểm này đã bị thách thức bởi sự phát triển của nhánh kinh tế học hành vi (Camerer, 2003) bởi phần lớn kết quả của nhánh này dựa trên các bằng chứng thực nghiệm. Hiện nay, các thí nghiệm đã được thực hiện trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả kinh tế vĩ mô. Số lượng các ấn phẩm kết hợp nghiên cứu thí nghiệm đang nở rộ. Sự phát triển các thí nghiệm trong lĩnh vực kinh tế phần nào hợp lý bởi sự sẵn có để kiểm định các dự báo cung cấp bởi các mô hình lý thuyết trò chơi và lý thuyết quyết định. Các quan sát dị thường lặp lại trong phòng thí nghiệm đã gia tăng tính thuyết phục rằng hành vi không chỉ và không phải luôn bị thúc đẩy bằng cách tối đa hóa tiền tệ (money maximization) mà lợi ích cũng bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc và ảnh hưởng đến lý luận kinh tế phụ thuộc vào điều kiện nhận thức.

 

Tại sao các nhà kinh tế học lại tiến hành các thí nghiệm? – Có ít nhất 7 lý do độc lập để giải thích cho câu hỏi này: i) kiểm định, hoặc lựa chọn giữa các lý thuyết; ii) so sánh các thể chế; iii) so sánh các môi trường; iv) khám phá nguyên nhân tại sao các lý thuyết thất bại; v) Thiết lập các quy tắc thực nghiệm cơ bản cho lý thuyết mới; vi) đánh giá các đề xuất chính sách; và vii) sử dụng phòng thí nghiệm như việc kiểm định cho các thiết kế thể chế. Smith đã nhấn mạnh ba chức năng của các thí nghiệm trong kinh tế học là: kiểm định lý thuyết, tạo dữ liệu và thiết kế thể chế. Hai chức năng đầu tiên, đóng góp lớn đã được thực hiện trong việc phân tích thị trường theo thông tin chưa hoàn hảo hay không hoàn hảo, trong sự hiểu biết về quá trình cá nhân ra quyết định và trong các nghiên cứu về tương tác xã hội. Sau đó, một số đã bị thách thức bởi các nghiên cứu thực nghiệm (Bazerman và Malhotra, 2006): cụ thể, sở thích không phải là lúc nào cũng ổn định và nhất quán; các tác nhân không có kiến ​​thức hoàn hảo về các sở thích của họ; họ không luôn sử dụng tất cả các thông tin sẵn có để ra quyết định. Điều này đặc biệt tấn công mạnh mẽ lĩnh vực phân tích động cơ cá nhân. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tác động của các động cơ tới hành vi cá nhân trong các điều kiện nỗ lực quyết định, như dự đoán bởi lý thuyết hãng (agency theory). Tuy nhiên, nhiều bằng chứng đã minh chứng rằng trong một số trường hợp, động cơ có thể tác động tiêu cực tới mức độ nỗ lực lựa chọn của các tác nhân (các động cơ có thể lấn át các động lực bên trong; chúng có thể không hiệu quả trong sự hiện diện của mục tiêu thu nhập, v.v…). Thật vậy, việc thí nghiệm lý thuyết kinh tế, nghiên cứu thực nghiệm đã xác định một vài hạn chế tư duy chiến lược: những hạn chế liên quan đến sự tồn tại của các động cơ xã hội, tâm lý và phán xét sai​​, năng lực nhận thức và cảm xúc bị giới hạn. Các thí nghiệm khác cũng đồng thời khẳng định sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các lực lượng cạnh tranh và thị trường đến các quyết định của con người.

 

Đóng góp của các thí nghiệm tới thiết kế thể chế cũng đáng được chú ý. Các thí nghiệm có thể giải quyết một số vấn đề chính sách công. Chúng cũng có thể sử dụng cho các công ty có kế hoạch cải cách tổ chức của họ, chiến lược của họ trên thị trường, hoặc cải cách chính sách nguồn nhân lực. Thí nghiệm cung cấp các kiểm định hữu ích cho thiết kế thị trường (ví dụ, thiết kế đấu giá băng thông truyền hình hoặc tổ chức thị trường cấp phép ô nhiễm). Chúng cung cấp một thay thế rẻ để thực hiện các ứng dụng chính sách quy mô nhỏ. Quá trình cũng được thực hiện trong phân tích các chế độ tài trợ khác nhau của hàng hóa công hoặc các chiến dịch chính trị (Houser và Stratmann, 2006). Đóng góp khác đó là các thí nghiệm có thể hữu ích trong việc phân tích sự ưa thích của các tác nhân khi thị trường không tồn tại (ví dụ, phương pháp tiếp cận mối quan hệ giữa giá trị và sự lựa chọn, hoặc phân tích tuân thủ thuế dưới các chế độ kiểm toán khác nhau). Một đóng góp nữa được nhấn mạnh đó là: cung cấp cho các viện nghiên cứu một công cụ giảng dạy sáng tạo.

 

Phương pháp luận thí nghiệm trong kinh tế học và ứng dụng trong NIEs

 

Đóng góp gần đây của các học giả NIEs hàng đầu đang xem kinh tế học thực nghiệm như một phương pháp đầy hứa hẹn cho sự phát triển tương lai của các chương trình nghiên cứu NIEs (Ménard, 2001; Joskow, 2003). Tuy nhiên, những tuyên bố này vẫn còn gây tranh luận bởi liệu rằng các nhà kinh tế học NIEs có thực sự tiến hành thực hiện các thí nghiệm ngoài các phương pháp thực nghiệm khác họ đã sử dụng.

 

Mục tiêu của phương pháp thí nghiệm nhằm tạo ra một tình huống kinh tế thực áp dụng các nguyên tắc của kinh tế học, như khi chúng xảy ra thực bên ngoài phòng thí nghiệm. Các tình huống kinh tế này được đặc trưng bởi các quy tắc mà đã được giải thích cho những cá nhân tương tác thực sự (chúng được gọi là "đối tượng" trong phòng thí nghiệm) người mà được thưởng phạt tùy thuộc vào hành động của họ trong phòng thí nghiệm. Các nhà thí nghiệm quan sát đối tượng hoạt động trong phòng thí nghiệm thông qua một thể chế trong một môi trường được điều chỉnh. Với nghĩa này, kinh tế học thực nghiệm không phải là một mô phỏng mà là một thí nghiệm thực.

 

Các hợp phần của môi trường thí nghiệm là các nguồn lực và sở thích của các đối tượng. Điều chỉnh động cơ và sở thích của đối tượng là các yếu tố quyết định trong thiết kế thí nghiệm. Cơ chế thúc đẩy động cơ sử dụng cho sự điều chỉnh này dựa trên một phương tiện bồi hoàn thực (thường là tiền tệ) mà đối tượng tham gia thí nghiệm có thể kiếm được. Cơ chế bồi hoàn (reward mechanism) phải đáp ứng ba điều kiện chính là tính đồng đều (monotonicity), sự rõ ràng (salience), và tính trội (dominance) (Smith 1976). "Monotonicity" đề cập đến vấn đề là các đối tượng này phải ưa thích bồi hoàn nhiều hơn là ít (thích nhiều hơn ít), và họ không được thỏa mãn. "Saliency" đề cập đến một thực tế là phần thưởng của các đối tượng nhận được phụ thuộc vào hành động của họ (và của các tác nhân khác trong đó mà họ tương tác trong phòng thí nghiệm) được xác định bởi thể chế. "Dominance" đề cập đến một thực tế rằng những thay đổi trong lợi ích của đối tượng trong suốt quá trình thí nghiệm là kết quả chính của các phương tiện bồi hoàn, và những ảnh hưởng khác là không đáng kể.

 

Thể chế đề cập đến giao thức mà các đối tượng phải tuân theo để tương tác trong phòng thí nghiệm. Trong một trò chơi thí nghiệm thể chế chỉ đơn giản là các quy tắc của trò chơi: hồ sơ hành động của người chơi (người mua, người bán, v.v...), thứ tự di chuyển, và tập thông tin của người chơi ở từng giai đoạn của trò chơi. Trong cuộc thí nghiệm thị trường, thể chế liên quan đến việc trao đổi thông tin trên thị trường (bids, asks, acceptance procedures), giao thức trao đổi thông tin (thể chế tập trung hoặc phân cấp) và các quy tắc theo đó trở thành các giao dịch thực.

 

Thí nghiệm có thể được sử dụng để kiểm định các phỏng đoán lý thuyết thiếu chắc chắn trong điều kiện cần điều chỉnh hoặc đo lường chính xác, hoặc cả hai. Ý tưởng đó là các lý thuyết tổng quát và các mô hình nên được áp dụng cho tất cả các trường hợp đặc biệt. Lý thuyết dự đoán được đặt trong một tập hợp các giả định, phương pháp thí nghiệm tạo ra dữ liệu với một môi trường và thể chế mà được tổ chức chặt chẽ phù hợp với tập hợp các giả định (trong lý thuyết kinh tế). Câu hỏi nghiên cứu sẽ được so sánh giữa các quan sát thực nghiệm và sự phỏng đoán từ lý thuyết từ đó ta có thể kiểm định tính vững của các lý thuyết hoặc nguyên nhân tại sao các lý thuyết thất bại.

 

Mỗi động cơ thúc đẩy cá nhân trong các cuộc tiến hành thí nghiệm rất hữu ích cho việc quan sát của các nhà NIEs. NIEs được chỉ ra như một "câu chuyện thí nghiệm thành công" của những người ủng hộ của nó. Đã có rất nhiều nghiên cứu về kinh tế học chi phí giao dịch (TCE), nhưng nhiều khía cạnh nghiên cứu vẫn cần được thí nghiệm. Phương pháp tiếp cận chính để kiểm định các phỏng đoán của NIEs cho đến nay liên quan đến bằng chứng thống kê và thử nghiệm kinh tế lượng, thường dựa trên bộ dữ liệu trích xuất trích xuất từ dữ liệu ban đầu. Tuy nhiên, dữ liệu cho phương pháp nghiên cứu này có thể không sẵn có trong lĩnh vực nghiên cứu của NIEs hoặc không thích hợp cho việc kiểm định các dự đoán của NIEs. Thật vậy, dữ liệu trong lĩnh vực nghiên cứu thường rất khó để thu thập bởi vì các thuộc tính của giao dịch (và vấn đề của các cấu trúc quản chế) hiếm khi được báo cáo trong các nguồn công bố. Mặt khác, nghiên cứu thực nghiệm trong NIEs thường đòi hỏi việc thu thập dữ liệu gốc trong khi các cơ quan công quyền cần một số nghiên cứu thực nghiệm để có khả năng nhận thức thêm về các tính chất của thể chế trước khi thực thi.

 

Nói một cách tổng quát hơn, các khái niệm được sử dụng bởi NIEs thường mang tính khái quát làm cho việc thu thập dữ liệu liên quan để tiến hành kiểm định sự phỏng đoán từ lý thuyết rất khó khăn (Ménard, 2001). Ứng dụng phương pháp thí nghiệm trong kinh tế học là một giải pháp tốt để có thể để tạo ra môi trường riêng trong phòng thí nghiệm, với các thông số mô tả trong một môi trường phù hợp, chặt chẽ nhất có thể, mà được sử dụng trong khung lý thuyết. Dữ liệu và kết quả thu được trong phòng thí nghiệm như vậy sẽ rất tốt trong quá trình thí nghiệm các giả thuyết của NIEs và cũng thỏa mãn được vấn đề chính sách của các cơ quan công quyền trước khi được thực thi.