Nước Hy Lạp hiện đại đã trở thành biểu trưng cho phá sản kinh tế và chính trị, một thử nghiệm tự nhiên về sự thất bại thể chế. Thật không dễ để một quốc gia được đưa vào các giáo trình như là ví dụ cho quá nhiều khuyết tật, cứng nhắc và méo mó thể chế. Nhưng chính phủ Hy Lạp đã làm được điều này. Và Hy Lạp là câu chuyện cảnh báo cho tất cả những quốc gia khác.

 

Hy Lạp từng được xem như một câu chuyện thành công. Và cũng có thể xem là câu chuyện thành công lớn cho nhiều thập kỉ. Tỉ lệ tăng trưởng trung bình của Hy Lạp trong nửa thế kỉ (1929 – 1980) là 5,2%, trong khi Nhật Bản cùng kì chỉ tăng trưởng với tốc độ 4,9%.

 

Các con số trên càng ấn tượng hơn nếu xét đến tình hình chính trị không hề bình thường của Hy Lạp trong giai đoạn này. Từ năm 1929 đến 1936, nền chính trị Hy Lạp biến động với các cuộc đảo chính, xung đột chính trị nóng bỏng, các thời kì độc tài ngắn ngủi và nỗ lực đồng hóa hơn 1,5 triệu người tị nạn từ Tiểu Á (chiếm khoảng 1/3 dân số Hy Lạp vào thời điểm đó). Từ năm 1936 đến 1940, Hy Lạp được nắm giữ bởi chế độ độc tài cánh hữu với rất nhiều điểm tương đồng so với chế độ độc tài tại Châu Âu cùng thời. Trong Thế chiến II (1940 và 1944), Hy Lạp là một trong những quốc gia chịu thiệt hại nhiều nhất xét về số người thiệt mạng. Ngay khi Thế chiến II vừa kết thúc, cuộc Nội chiến dữ dội và tàn khốc lại nổ ra (với hai giai đoạn: 1944 và 1946-1949) sau cuộc nổi loạn có tổ chức từ phía đảng Cộng sản. Nước Hy Lạp từ 1949 đến 1967 là ví dụ điển hình về nền dân chủ phi tự do mang tính áp đặt, thiếu quy định pháp luật. Đến 21 tháng Tư, 1967, một ủy ban quân sự đã cướp chính quyền và cai quản Hy Lạp cho tới tháng Bảy 1974, thời điểm đánh dấu Hy Lạp trở thành quốc gia theo chế độ dân chủ tự do hiến định. Nền kinh tế của Hy Lạp vẫn phát triển mặc cho chiến tranh, nổi loạn, chế độ độc tài và nền chính trị hỗn loạn.

 

Bảy năm sau khi đi theo chế độ dân chủ hiến định, chín thành viên khi ấy của Cộng đồng châu Âu đã chấp nhận Hy Lạp làm thành viên thứ mười (trước cả Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha). Vì sao lại như vậy? Đây là một quyết định đa phần mang tính chính trị nhưng nó cũng căn cứ vào sự tăng trưởng kinh tế kéo dài nhiều thập kỉ, bất chấp việc Hy lạp còn nhiều điểm yếu kém và khó khăn. Hy Lạp khi gia nhập EC có tỉ lệ nợ công là 28% GDP, nhưng tỉ lệ thâm hụt ngân sách ít hơn 3% GDP, và tỉ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 2 hoặc 3%.

 

Nhưng đây chưa phải là phần kết của câu chuyện.

 

Hy Lạp trở thành thành viên của EC vào ngày mùng 1 tháng Một năm 1981. Mười tháng sau (tháng Mười năm 1981) đảng Xã hội chủ nghĩa của Andreas Papandreou (Đảng PASOK) lên nắm quyền với nghị trình mang tính chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa nhà nước cực đoan, trong đó bao gồm cả việc ra khỏi EC. Tất nhiên không có ai ngu ngốc đến mức thực thi lời hứa như vậy. Hy Lạp, với đảng PASOK cầm quyền, vẫn ở lại EC nhưng đã thay đổi cục diện kinh tế và chính trị chỉ trong một vài năm.

 

Cuộc khủng hoảng ngày nay ở Hy Lạp chủ yếu là hậu quả từ các chính sách với tầm nhìn hạn hẹp của đảng PASOK, xét trên hai khía cạnh quan trọng:

 

(a)    Chính sách kinh tế của đảng PASOK là một thảm họa; chúng tạo ra một hỗn hợp chết người trong đó nhà nước phúc lợi cồng kềnh phi hiệu quả kết hợp với sự can thiệp cứng nhắc và điều tiết quá đà đối với khu vực tư nhân.

 

(b)   Hậu quả chính trị để lại của đảng PASOK còn nghiêm trọng hơn trong dài hạn, do những thành công về mặt chính trị của nó đã biến đảng Bảo thủ Hy Lạp (đảng “Dân chủ mới”) thành một bản sao tồi tệ của chế độ PASOK. Từ năm 1981 đến 2009 hai đảng chủ yếu cung cấp phúc lợi theo chủ nghĩa dân túy, thân hữu, nhà nước can thiệp, gia đình trị, bảo hộ mậu dịch và gia trưởng. Cứ như vậy chúng cùng tồn tại.

 

Cuộc cạnh tranh tai hại giữa các đảng trong việc cung cấp cho các nhóm cử tri ân huệ, phúc lợi kiểu chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa nhà nước đầy tính trục lợi đã mang lại kết cục như ngày nay. 

 

Nguồn: Hướng đến kỉ nguyên hậu nhà nước phúc lợi, Tom Palmer (chủ biên), nhóm dịch giả: Đinh Tuấn Minh (chủ biên dịch thuật), Nguyễn Minh Cường, Dương Quỳnh Hoa, Lê Thanh Bình, Trần Thùy Dương, Trần Vũ Thủy Tiên, Doãn Thị Phương Thảo, Năm xuất bản Tri Thức, 2013).