GIẤY MỜI ĐÓNG GÓP THAM LUẬN

F-Reading Seminar số 2-2016

GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN VỐN CON NGƯỜI

 

"The most valuable of all capital is that invested in human beings."

“Cái giá trị nhất của mọi loại vốn là được đầu tư vào con người”

Alfred Marshall, Principles of Economics.

Cùng với lao động, đất đai, vốn, công nghệ, vốn con người không những được xác định như một nhân tố then chốt cho sự tăng trưởng mà còn đóng vai trò to lớn trong việc giảm đói nghèo, cũng như thiết yếu cho sự phát triển của loài người. Trong đó, giáo dục được đánh giá là một hoạt động quan trọng đối với sự phát triển của vốn con người. Thông qua giáo dục, con người cải thiện những kỹ năng, hiểu biết biết của mình, từ đó nâng cao thu nhập, gia tăng chất lượng cuộc sống không chỉ về vật chất mà cả tinh thần. Giáo dục cũng được coi như một chìa khóa giúp các tầng lớp yếu thế vươn lên đạt địa vị trong xã hội.

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập sâu rộng với thế giới, đây là một cơ hội lớn để Việt Nam tiếp cận với luồng tri thức khổng lồ về khoa học kỹ thuật, những công nghệ sản xuất và quản lý hiện đại. Tuy nhiên, sẽ rất khó để tận dụng được cơ hội này nếu Việt Nam không có một nguồn nhân lực trình độ cao đủ sức hấp thụ luồng vốn đó.

Trong buổi Seminar này, chúng tôi mong muốn đóng góp những hiểu biết sâu sắc hơn về mối liên hệ giữa giáo dục và sự phát triển vốn con người, đưa ra những quan điểm về vai trò của nhà nước, các công ty, người lao động trong việc phát triển một nền giáo dục chất lượng cao và nhận diện những tư duy sai lệch đang kìm hãm sự phát triển giáo dục tại Việt Nam. 

Nhóm Đọc (F-Group Việt Nam) xin trân trọng kính mời các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học, các nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên quan tâm đóng góp tham luận về chủ đề “Giáo dục và sự phát triển vốn con người”.

Những vấn đề chúng tôi mong muốn các tác giả phân tích gồm:

·        Những vai trò của đầu tư vào vốn con người trong việc cải thiện thu nhập của người lao động và phát triển nền kinh tế?

·        Thị trường giáo dục đóng vai trò gì trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao? Những cơ chế, chính sách nào giúp thị trường giáo dục hoạt động hiệu quả?

·        Động cơ lợi nhuận có phải là nguyên nhân chính dẫn tới hệ thống giáo dục tư nhân không hiệu quả?

·        Quyền hạn hoạt động của nhà nước đối với thị trường giáo dục nên được giới hạn trong những lĩnh vực nào? Phương thức nào giúp hoạt động hỗ trợ trong lĩnh vực giáo dục hiệu quả?

·        Những tư duy sai lệch nào về vai trò của giáo dục ở nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang cản trở sự phát triển vốn con người?

 

Lợi ích tham gia

- Được gặp gỡ, trao đổi cùng các chuyên gia về chủ đề.

- Có cơ hội được chuyên gia training kĩ năng viết review sách và tiểu luận khoa học.

- Được khẳng định và đưa ra những quan điểm của bản thân.

- Cơ hội giành giải thưởng tại Seminar dành cho các bài tham luận:

   01 giải Nhất: 500.000đ,

   01 giải Nhì: 300.000đ,

   01 giải Ba 200.000d.

Các tác giả vui lòng đăng ký tham gia tham luận tại đây: https://goo.gl/l2Mwef

Sau khi đăng ký, thành viên nhóm Đọc sẽ liên hệ với các tác giả để trao đổi về chủ đề.

 

Những mốc thời gian quan trọng

28/10/2016

Nộp bản tóm tắt tham luận dưới 300 từ gồm tên tham luận, câu hỏi nghiên cứu và những luận điểm chính.

 

3/11/2016

 

Nộp bản thảo chi tiết và slide.

4/11/2016

Thông báo những tham luận được trình bày.

5/11

Trình bày hội thảo tại Seminar.

12/11/2016

Gửi bản tham luận hoàn chỉnh.

 

Tổng quan về chủ đề: Giáo dục và sự phát triển vốn con người.

 

Nhắc tới vốn, chúng ta có thể liên tưởng ngay tới cổ phiếu, tiền, những cỗ máy… Tuy nhiên chi tiêu cho dịch vụ y tế, giáo dục, hay rèn luyện thái độ, sức khỏe, thói quen tốt trong cuộc sống cũng là những kiểu đầu tư cho một dạng vốn đặc biệt- vốn con người.

Những giá trị như năng lực, hiểu biết, sức khỏe, kỹ năng điều hành… được coi là vốn bởi chúng cũng mang lại lợi ích cho người đầu tư, gồm cả lợi ích bằng tiền hoặc phi tiền tệ, giống như đầu tư vào các dạng vốn vật chất và tài chính khác như một chiếc ô tô tải, tài khoản tại ngân hàng.              

Điểm khác biệt nhằm phân loại giữa vốn vật chất/ vốn tài chính và vốn con người là vấn đề về sở hữu. Trong khi một chiếc ô tô tải, những phát minh khoa học được đảm bảo quyền sở hữu cho người đầu tư thông qua các giấy tờ, chứng chỉ; chúng ta rất khó có thể làm vậy với vốn con người. Ngoại trừ trong một xã hội nô lệ, người nô lệ bị đối xử giống như một loại hàng hóa mà người chủ nô có toàn quyền quyết định việc sử dụng anh ta vào bất cứ việc gì. Vốn con người luôn gắn liền với bản thân mỗi người, bất kể ai là người đầu tư.

Cách nhìn giáo dục như một hoạt động đầu tư, đặc biệt là đối với giáo dục bậc cao cung cấp cho ta một góc nhìn mới để hiểu được “thị trường giáo dục” hoạt động như thế nào, động cơ lợi ích đóng vai trò gì trong quyết định đầu tư vào giáo dục bởi người lao động, các hãng và nhà nước.

Dựa trên hiệu ứng đầu tư, có thể chia đầu tư vốn con người thành hai dạng chính:

 

Đầu tư tổng quát

Những đầu tư giúp làm tăng vốn con người mà có thể được sử dụng ở nhiều công ty, ngành nghề, khu vực khác nhau… được xếp vào đầu tư tổng quát. Ví dụ như những khoản chi phí cho việc học kiến thức ngành tài chính ngân hàng, tự động hóa, chi phí chăm sóc sức khỏe, chi phí nhập cư…  Những khoản đầu tư này chủ yếu do người lao động chi trả. Thông qua hy sinh khoản tiêu dùng hiện tại, sự gia tăng vốn người sẽ làm tăng thu nhập của họ trong tương lai. Các hãng sẽ có ít động lực hơn để chi trả cho đào tạo tổng quát, bởi các hãng không có một phương thức hiệu quả ngăn cản người lao động rời bỏ công ty. Trường hợp xấu nhất là hãng vừa phải bỏ ra chi phí đào tạo tổng quát, vừa trả mức lương thấp hơn những hãng không phải bỏ ra chi phí này, điều này khiến cho các hãng không có động lực thực hiện đầu tư tổng quát.

Nhu cầu về đào tạo làm xuất hiện các tổ chức chuyên phụ trách công việc này. Một trường học có thể được xem như một tổ chức chuyên môn hóa trong việc sản xuất dịch vụ đào tạo, khác biệt với một hãng đề ra việc đào tạo trong sự kết hợp với việc sản xuất hàng hóa. Một vài trường học, như những trường dành cho thợ cắt tóc, chuyên môn hóa ở một kỹ năng, trong khi những trường khác, như các trường đại học, cung cấp một bộ kỹ năng lớn và đa dạng. Cơ chế này giúp hình thành nên thị trường giáo dục và đào tạo.

 

Đầu tư đặc thù

Những đầu tư nào chỉ mang lại lợi ích khi người nhân viên làm việc cho một hãng, một nhóm ngành hay một khu vực được xếp vào đầu tư đặc thù. Ví dụ như chi phí đào tạo cho những kỹ năng lập trình đặc biệt chỉ sử dụng được ở một công ty về phần mềm nào đó, chi phí từ lúc tuyển dụng đến khi nhân viên thích nghi với văn hóa công ty…

Đầu tư đặc thù không chỉ được chi trả bởi các hãng mà người lao động tham gia lao động cũng phải bỏ ra các chi phí nhất định như thời gian đào tạo, áp lực học hỏi kỹ năng mới… Sau quá trình đào tạo đặc thù, người lao động cũng thường nhận được mức lương cao hơn để gắn bó với công ty. Chi phí và lợi ích đầu tư đặc thù được chia sẻ giữa cả người lao động và người đầu tư.

 

Việc hiểu giáo dục bậc cao thuộc dạng đầu tư nào mang tính quyết định xem chúng ta nên ứng xử với hoạt động giáo dục và những người tham gia thị trường này như thế nào.

Giáo dục ở Việt Nam đã trải qua nhiều lần cải cách nhưng dường như không tạo ra những biến chuyển tích cực rõ rệt, đặc biệt ở giáo dục cao đẳng đại học. Sự độc quyền giáo dục bởi nhà nước thông qua các trường học công và những kiểm soát ngặt nghèo với thị trường này không những không mang lại một nền giáo dục chất lượng cao và bình đẳng cho mọi người mà thậm chí khiến giáo dục ngày càng xa rời những nhu cầu của người học và thị trường lao động. Việt Nam đang trong quá trình chuẩn bị hội nhập kinh tế, để tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến từ các quốc gia hàng đầu, nguồn nhân lực cũng phải trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Điều này đòi hỏi những quyền lực độc quyền từ phía nhà nước cần phải được xem xét lại kỹ càng và hạn chế ở những khung khổ nhất định. Thay vì độc quyền cung ứng giáo dục, nhà nước cần tạo một khung khổ hợp lý và những hỗ trợ thích hợp để thị trường giáo dục vận động một cách ăn khớp và thỏa mãn được động cơ của những bên tham gia.  

Các cá nhân với vai trò là người lao động cần xác định được được đâu là những dạng đầu tư tổng quát cần thiết và có những tính toán hợp lý để đưa ra quyết định có nên tham gia vào hoạt động giáo dục hay không.

Các hãng cũng cần nhận biết được những xu thế về công nghệ, chuyển dịch nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập để đưa ra quyết định đầu tư vào vốn con người một cách đúng đắn.

Tài liệu tham khảo

Tác giả Gary Becker- Đạt giải Nobel Kinh tế học năm 1992.

1.    Vốn con người.

Bản dịch tiếng Việt:

http://www.phantichkinhte123.com/2015/01/von-con-nguoi.html

Bản gốc tiếng Anh:

http://www.econlib.org/library/Enc/HumanCapital.html

 

Nội dung: Khái niệm vốn con người, vai trò của việc đầu tư vào vốn con người trong việc cải thiện thu nhập của người lao động và phát triển nền kinh tế.

 

 

2.    Investment in Human Capital: Effects on Earnings. (Đọc mục 1. On-the-job Training và 2. Schooling).

Bản tóm tắt tiếng Việt:

https://goo.gl/JFMKsK

 

Bản gốc tiếng Anh:

http://www.nber.org/chapters/c3733.pdf

 

Nội dung: Cung cấp một lý thuyết thống nhất để phân tích các dạng vốn con người khác nhau. Chỉ ra vai trò của đào tạo nghề nghiệp, giáo dục đối với sự phát triển vốn con người. Phân tích hành vi lựa chọn hoạt động đầu tư vào vốn con người và những hệ quả về phân phối thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp…

 

3.    Rates of Return from College Education.

Bản gốc tiếng Anh:

http://www.nber.org/chapters/c3735.pdf

 

Nội dung: Xác định mối quan hệ giữa thu nhập và giáo dục đại học bằng cách xem xét năng lực lớn hơn của những người qua giáo dục đại học và so sánh với chi phí. Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về năng lực và thu nhập chủ yếu do sự khác biệt về đầu tư vào vốn con người.

 

 

4.    Underinvestment in College Education?

 

Bản gốc tiếng Anh:

http://www.nber.org/chapters/c3736.pdf

 

Nội dung: Đo lường lợi ích xã hội nhận được từ giáo dục đại học bằng cách đo lường những tác động của nó lên năng suất lao động quốc gia. So sánh với lợi ích cá nhân thu được.

5.    Age, Earnings, Wealth, and Human Capital

Bản gốc tiếng Anh:

http://www.nber.org/chapters/c3738.pdf

 

Nội dung: Xem xét tác động của vốn con người lên thu nhập và của cải ở những độ tuổi khác nhau.