Một tư tưởng thương mại mang màu sắc bảo hộ

Những chính sách thương mại Trump đưa ra dựa trên quan điểm: nước Mỹ đã bị các đối tác thương mại lớn khai thác, lợi dụng thông qua các thỏa thuận ràng buộc nền kinh tế, và chính quyền của ông sẽ giành ưu tiên hàng đầu để xem xét lại các điều khoản bất lợi đó. Các chính sách tiêu biểu:

(i)                Đàm phán lại hoặc rút khỏi Hiệp định Tự do Bắc Mỹ (NAFTA)

(ii)             Dừng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

(iii)           Áp mức thuế suất 45% cho hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và mức thuế 35% lên hàng hóa từ Mexico

 

Trump có thể thành công mà không cần nhìn lại lịch sử, nhưng nhóm cố vấn của ông thì thừa hiểu điều đó và ngay tại nội bộ của nhóm cũng tồn tại những tranh luận gay gắt về “cây gậy” hơn hay “củ cà rốt” hơn. Dù thế nào ông cũng đã chọn chính sách thương mại bảo hộ và thái độ kì thị với các hiệp định thương mại tự do. Vậy đằng sau chính sách đó thực sự là gì?

Tại sao Trump lại bài xích các hiệp định thương mại tự do đến vậy?

Lý thuyết kinh tế học từ lâu đã chỉ ra rằng các nước khi tham gia thương mại tự do đều có lợi, ngay cả khi một nước có công nghệ thua kém hơn ở tất cả các ngành so với những nước còn lại trong khối thương mại[1]. Ý tưởng này xuất phát từ David Ricardo - nhà kinh tế học người Anh thế kỉ XVIII, người đã dạy chúng ta rằng miễn là một nước sản xuất sản phẩm mà nước đó làm tốt nhất (lợi thế so sánh), thì nước đó sẽ hưởng lợi từ thương mại các quốc gia.

Các nhà kinh tế có thể bất đồng với nhau về nhiều chuyện, nhưng tự do thương mại hầu như không nằm trong số đó. Vậy còn Trump, ông ấy đã nghĩ điều gì vậy?

Trump cho rằng chính các hiệp định thương mại tự do đã mang việc làm ra khỏi nước Mỹ, và nước Mỹ bị tổn hại lớn bởi những điều khoản ràng buộc trong các hiệp định đó.

Nguồn: The economist

Thực tế không thể phủ nhận là cán cân thương mại của nước Mỹ đang ngày càng thâm hụt. Trên biểu đồ cho thấy Trung quốc, Canada và Mexico mới là những nguyên nhân chính gây ra thâm hụt thương mại mà không phải là các nước có hiệp định thương mại tự do với Mỹ. Vậy thì “thương mại tự do” và “việc làm” có liên quan đến nhau như Trump đã nói?

Hầu hết các nghiên cứu với số liệu kỹ càng đều chỉ ra rằng: (1) phần lớn công việc bị mất ở Mỹ là do tự động hóa (máy móc thay người) chứ không phải do tự do thương mại, và (2) nếu cắt tự do thương mại thì người chịu ảnh hưởng đầu tiên là người nghèo, vì họ không còn mua được những sản phẩm giá rẻ nhập từ Trung Quốc nữa.

Trước khi làm nước Mỹ vĩ đại thêm lần nữa thì

 Trump phải làm tổng thống đã!

 


Nhưng cuối cùng Trump vẫn lựa chọn các chính sách thương mại mang màu sắc bảo hộ. Và tất nhiên giờ này ông đúng. Vì ít nhất chương trình tranh này đã mang ông đến với chiếc ghế ông chủ Nhà Trắng.

Từ lý thuyết cử tri trung gian đến lựa chọn của Trump

Bất kể Trump có nền tảng là doanh nhân hay không, quan điểm cá nhân của ông thực sự là gì, thì chiến lược tranh cử với trọng tâm là chính sách thương mại mang màu sắc bảo hộ là con đường duy nhất để chiến thắng trong cuộc bầu cử.

Mọi chính khách muốn thắng cử cần dự đoán chính xác

 lựa chọn của cử tri trung gian, và xây dựng chương trình

tranh cử của mình dựa vào đó.


Tại sao lại như vậy? Định lý cử tri trung gian tỏ ra hiệu quả trong trường hợp này. Cử tri trung gian (cử tri trung vị) là người có sự lựa chọn nằm giữa tập hợp các lựa chọn của tất cả các cử tri. Khi đó, định lý cử tri trung gian phát biểu rằng, với một số giả thiết nhất định, kết quả biểu quyết theo đa số phản ánh đúng sự lựa chọn của cử tri trung gian. Nhà kinh tế học người Mỹ A. Down (1957) đã lập luận rằng, ứng cử viên nào muốn tối đa hóa phiếu bầu sẽ lựa chọn chương trình tranh cử mà cử tri trung gian lựa chọn.

                                

Hình 1: Định lý cử tri trung gian trong tranh cử

Có vẻ như cử tri trung gian của Mỹ không ưa thích các chính sách thương mại tự do cho lắm. Điều này phần nào giải thích lý do bà Hillary, người được cho là có xu hướng ủng hộ các hiệp định thương mại tự do trước đó, lại quay sang chỉ trích TPP khi cuộc bầu cử bước vào giai đoạn nước rút.

Nếu vậy thì cử tri trung gian tại Mỹ là những ai? Về địa chính trị, họ có thể nằm ở các bang dễ dao động (swing states), những bang này có thể ngã theo phe này hay phe kia tùy theo chiến dịch tranh cử. Báo chí Mỹ cho rằng có mười một bang có khả năng thay đổi phe, trong đó có bốn bang đặc biệt không chắc chắn là Florida, Ohio, North Carolina và Nevada. Các bang này tập trung khá đông người Mỹ gốc Tây Ban Nha và có tỷ lệ thấp nghiệp cao so với mặt bằng chung.

Về kinh tế, cử tri bị ảnh hưởng từ các kết quả tiêu cực mà thương mại tự do đem lại, chủ yếu là những người thất nghiệp hoặc đang phải làm việc bán thời gian có thu nhập thấp. Theo thống kê hiện có khoảng 6-7 triệu người Mỹ đang phải làm việc một nửa thời gian và muốn một công việc toàn thời gian hơn, trong khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn đang ở mức 5% - khoảng gần 15 triệu người. Rõ ràng thuyết phục lượng cử tri trung gian này bằng cách hứa hẹn tăng việc làm thông qua các biện pháp cứng rắn với Trung Quốc và Mexico, hoặc ít nhất cũng là cam kết không để mất thêm việc làm bằng cách phản đối các hiệp định thương mại như TPP là một lựa chọn tối ưu.

Khi đã là tổng thống, Trump sẽ kiên trì với những lựa chọn ấy đến cùng?

Câu trả lời là không dễ như vậy, bởi 3 luận điểm chính.

Nếu xem xét lại lý thuyết cử tri trung gian ở trên thì không hẳn cử tri trung gian ghét các thỏa thuận thương mại tự do. Họ chỉ đang “lầm tưởng” về chúng bởi dẫn dắt của Trump. Cuộc thăm dò trước cuộc tranh cử của Viện Gallup cho kết quả phần lớn người dân Mỹ coi thương mại quốc tế là một cơ hội hơn là một thách thức.

Nguồn: Khảo sát của Viện Gallup 1/2016

Nếu hầu hết các ứng viên tổng thống khác đưa ra chương trình vận động tranh cử dựa theo lựa chọn của cử tri trung gian. Thì Trump đã đi trước một bước là “dấn dắt” tâm lý họ!


Khảo sát mới nhất được Đại học Harvard thực hiện cũng cho thấy đa số người dân Mỹ có thái độ tích cực trong vấn đề thương mại với hầu hết các nước trên thế giới, trừ Trung Quốc và Mexico. Nói cách khác, cử tri Mỹ chỉ không thực sự hài lòng về các đối tác thương mại đang gây ra nhiều kết quả bất lợi cho nền kinh tế như thâm hụt thương mại hay mất việc làm do làn sóng dịch chuyển sản xuất. Đây lý do khiến làn sóng phản đối các hiệp định thương mại nói chung tại Mỹ có phần “vơ đũa cả nắm”.

Khi đã là tổng thống, dĩ nhiên Trump không cần phải quá quan tâm đến cử tri trung gian nữa - những người mà không hẳn đã nghĩ xấu về thương mại tự do, mà đối tượng chính ở đây là lợi ích của toàn nước Mỹ. Vì vậy, ông chắc chắn sẽ phải lưu tâm đến dự báo của Viện nghiên cứu Peterson về kinh tế quốc tế, khi ước tính nhân sự ngành tư nhân tại Mỹ sẽ mất 4,8 triệu việc làm (hơn 4%) cho tới năm 2019 nếu những cam kết tranh cử của mình được thực hiện.

Luận điểm thứ hai đó là nước Mỹ vẫn có những rào cản về lập pháp không dễ dàng vượt qua cho tổng thống. Cụ thể, theo Hiến pháp Hoa Kỳ, thẩm quyền về thương mại quốc tế được đặc biệt giao cho Quốc hội cùng với cơ quan lập pháp trong nhiều thập kỷ qua. Tổng thống chỉ được trao quyền lực về vấn đề này cùng với các giới hạn nghiêm ngặt.

Cuối cùng, quay trở lại với câu chuyện ở đầu bài, nếu nhìn vào lịch sử thìTrump không phải là tổng thống đầu tiên theo chủ nghĩa bảo hộ. Và chính xác chuyện gì đã xảy ra những năm 30? Tổng thống thứ 31 Herbert Hoover từ chối thương mại tự do, áp đặt biểu thuế Smoot-Hawley - thứ đã làm cho cuộc Đại Suy thoái (1929-33) trở nên trầm trọng hơn.

Năm 1971, Richard Nixon ban hành điều luật áp đặt mức thuế 10% lên tất cả mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ để buộc Nhật Bản và các nền kinh tế lớn khác định giá lại đồng tiền của họ. Thực tế thì quyết định này khơi mào cho một cuộc chiến tranh tiền tệ.  Hậu quả là Mỹ lại rơi vào suy thoái. Đến năm 1973, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) phải tuyên bố hệ thống Bretton Woods 'bị khai tử'.

Trump có thể không bận tâm về lịch sử kinh tế thế giới, không cần để ý đến lý thuyết cử tri trung gian, thậm chí các rào cản về luật pháp Mỹ cũng không phải là vấn đề lớn. Nhưng nếu ông ấy thực sự quan tâm đến nước Mỹ, chúng ta có thể tin rằng các chính sách sẽ không quá bảo thủ, đương nhiên Mỹ vẫn sẽ có lập trường quyết liệt hơn trong các thỏa thuận thương mại, nhưng ít nhất các cố vấn kinh tế trong đội ngũ của Trump sẽ biết phải làm gì để mọi thứ nằm trong giới hạn.

 


[1] Có thể hiểu đơn giản lý thuyết này qua câu chuyện “Hòn đảo của Gilligan”. Hòn đảo chỉ có 2 người Gilligan và thuyền trưởng. Có 2 nhiệm vụ là bắt cá và dựng lều. Thuyền trưởng nhiều kinh nghiệm hơn bắt một con cá mất 10h, dựng lều mất 20h, một năm làm việc 2000h; tương tự Gilligan mất 15h và 45h nhưng do trẻ hơn nên làm việc một năm 3600h.

Nếu cả 2 cùng làm việc độc lập, mỗi người dành một nửa quỹ thời gian cho bắt cá, nửa còn lại cho dựng lều thì thuyền trưởng được 100 con cá, 50 cái lều; Gilligan là 120 con cá, 40 cái lều. Tổng cộng hòn đảo có 220 con cá và 90 cái lều.

Nếu được chuyên môn hóa, thuyền trưởng chỉ dựng lều (ông ta sẽ làm được 100 cái), Gilligan chỉ bắt cá (sẽ kiếm được 240 con). Như vậy, hòn đảo đã tăng sản lượng nhờ chuyên môn hóa ngay cả khi Gilligan còn kém xa về năng lực trong 2 nhiệm vụ.