Kinh nghiệm Trung Quốc và Việt nam, việc nghiên cứu lịch sử thực của hai nước này có thể giúp việc suy nghĩ lại quan hệ giữa các khái niệm chủ nghĩa xã hội và thị trường. Cùng lúc đó cách tiếp cận theo chiều ngược lại cũng có thể rất hữu ích. Việc nhắc lại các cuộc tranh luận chính trị và khoa học của quá khứ cũng có thể đóng góp cho sự hiểu kỹ hơn những diễn biến thực của ngày hôm nay. Các nhà phân tích dễ bị lạc vào những phần vụn vặt. Việc đối sánh những kinh nghiệm ngày nay với các cuộc tranh luận sâu rộng hàng thế kỷ đặt sự phát triển của Trung Quốc và Việt Nam vào một viễn cảnh lịch sử rộng hơn.

Các cuộc tranh luận này đã luôn đặc trưng bởi những rối loạn khái niệm. Tiểu luận của tôi thử làm làm sáng tỏ khái niệm.

Giải nghĩa khái niệm thị trường

Giải nghĩa khái niệm thị trường không phức tạp – ít nhiều – có sự đồng thuận. Thị trường là cơ chế phục vụ cho sự điều phối các hoạt động con người, sự tổ chức tích hợp xã hội.[2]

Thị trường không phải là cơ chế điều phối, tích hợp duy nhất. Tôi chỉ nhắc duy nhất đến một cơ chế hoạt động và mạnh khả dĩ khác là cơ chế điều phối quan liêu, cơ chế đặc biệt quan trọng nhìn từ quan điểm kinh nghiệm Trung Quốc và Việt Nam. Trong quá khứ qua nhiều thập niên cơ chế này đã đảm bảo vai trò điều phối chính ở hai nước này. Điều phối quan liêu và thị trường khác căn bản với nhau về mức độ tập trung hay phân tán, về bản chất của các quá trình thông tin, về các khuyến khích. Điều phối thị trường và điều phối quan liêu chỉ là hai trong số nhiều loại cơ chế điều phối do lịch sử tạo ra, tuy tôi nói thêm rằng hai cơ chế này có vai trò đặc biệt quan trọng. Với thời gian các xã hội – trong khuôn khổ của các quá trình có ý thức hay tự phát – lựa chọn giữa các cơ chế khả dĩ. Cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam, bên cạnh những thay đổi khác, đã mang lại sự dịch chuyển xa khỏi ưu thế của điều phối quan liêu sang phía ưu thế của điều phối thị trường.

Trong khi có sự thống nhất rộng rãi liên quan đến ý nghĩa của từ thị trường, thì lại xuất hiện những khó khăn lớn liên quan đến khái niệm xã hội chủ nghĩa. Có nhiều cách giải nghĩa. Đây không phải là những sự khác biệt quan điểm ngôn ngữ theo kiểu chẻ sợi tóc làm tư. Trên bề mặt có vẻ là các ý kiến đối chọi nhau về sự giải nghĩa của một từ duy nhất. Thực ra, sự chia rẽ sâu sắc về lựa chọn giá trị chính trị, về các viễn cảnh khả dĩ của “xã hội tốt”, về vạch ra chiến lược dẫn đến việc thiết lập trật tự mới, đã đè nặng một cách nghiêm trọng lên cuộc tranh luận khái niệm. Cuộc tranh luận không phải là về các từ, mà là sự đối chọi của những hùng biện chính trị khác nhau và của các ý thức hệ khác nhau.[3]

Tôi trình bày năm cách giải nghĩa của từ xã hội chủ nghĩa. Có nhiều loại giải nghĩa hơn, nhưng phần lớn những cách giải nghĩa đó có thể được mô tả bằng một sự pha trộn hay sự kết hợp của năm trường hợp “thuần khiết” mà tôi sẽ trình bày, hoặc như một trạm dừng tạm thời hay chuyển tiếp giữa các trường hợp thuần khiết này.

1. Giải nghĩa thứ nhất. Quan niệm xã hội chủ nghĩa của Marx

Hãy bắt đầu với Marx! Ông không phải là người đầu tiên dùng từ xã hội chủ nghĩa. Sự giáo dục chính thống của chủ nghĩa Marx, như được giảng dạy ở các nước dưới sự thống trị của đảng cộng sản, ưa thích dùng cái mác với nghĩa xấu, “chủ nghĩa xã hội không tưởng” để chỉ các nhân vật lỗi lạc cao vòi vọi của lịch sử chính trị và trí tuệ, Saint-Simon, Owen và Fourier, đối sánh họ với các tư tưởng của “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Cái sau hình như bắt đầu với Marx.

Chắc chắn Marx đã mở ra một chương mới trong lịch sử các tư tưởng xã hội chủ nghĩa, và các học thuyết của ông đã có – và trong thời đại ngày nay vẫn có – ảnh hưởng to lớn đến tư duy và hành động chính trị. Vì thế có vẻ hợp lý để chúng ta tập trung sự chú ý đến đóng góp của ông.

Chúng ta không thể khẳng định rằng Marx đã say sưa cố gắng mô tả hệ thống xã hội chủ nghĩa tương lai. Ông đã đưa ra những nhận xét nhạo báng đối với các giáo sư Đức, những người đã vạch ra một cách chi tiết bản thiết kế của chế độ xã hội chủ nghĩa tương lai. Ông đã giới hạn ở việc để rơi vãi  vài ám chỉ ở chỗ này chỗ nọ. Đối với những tư tưởng của ông về chủ nghĩa xã hội, một phần chúng ta có thể suy ngược lại từ những cách tiếp cận phủ định * của ông: các đặc tính nào của chủ nghĩa cộng sản là các đặc tính mà ông từ chối với sự giận dữ nhất.

Cơ cấu chính trị. Marx đã không có kế hoạch rõ ràng về chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội nên như thế nào. Nhưng có thể tìm thấy các mẩu ý tưởng trong các công trình của ông mà các mẩu ý tưởng đó  cho phép chúng ta tái dựng kết cấu tư tưởng hình thành trong ông về đối tượng. Không nghi ngờ gì Marx đã không coi trọng “nền dân chủ tư sản”. Ông đã sẵn sàng trình bày các tư tưởng chính trị phóng khoáng dưới màu sắc nực cười, và coi chúng là rỗng tuếch. Nổi tiếng là những dòng được trích dẫn nhiều lần, trong đó ông lên tiếng bảo vệ chuyên chính vô sản, cần đến nó trên con đường dẫn tới hệ thống cộng sản chủ nghĩa đã phát triển hoàn toàn.

Marx đã có vài lý tưởng vô chính phủ ngây thơ về trạng thái chính trị của giai đoạn “chủ nghĩa cộng sản”. Bởi vì khi đó mọi nhu cầu được thoả mãn, sự cần thiết của bất cứ loại bạo lực hay trấn áp nào tự động mất đi. Nhà nước bắt đầu teo lại một cách tự phát, rồi cuối cùng biến mất, và chỉ còn bộ máy tự quản duy lý của cộng đồng.

Chắc chắn Marx đã không thúc đẩy việc thiết lập một nhà nước tàn bạo, áp bức, toàn trị leninist-stalinist-maoist. Thế nhưng, có thể nói rằng ông đã không coi nền chuyên chính là không tương hợp với những hình dung riêng của ông, chí ít cho giai đoạn quá độ, có độ dài không được xác định, dẫn tới chủ nghĩa cộng sản.[4]

Sở hữu. Quan niệm của Marx là như sau. Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, tư bản sản xuất thuộc sở hữu của các nhà tư bản, họ điều khiển việc sử dụng tư bản. Giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô sản; không phải vì các thành viên của giai cấp tư sản là những người tàn bạo, mà bởi vì họ là các chủ sở hữu hợp pháp của tư bản. Phải thay đổi thế giới, đã đến lúc tước đoạt những kẻ đi tước đoạt. Từ dòng tư duy này suy ra rằng Marx và Engels trong Tuyên ngôn Cộng sản đã lên tiếng ủng hộ chế độ công hữu. “Giai cấp vô sản sẽ sử dụng quyền lực chính trị để từng bước chiếm đoạt tất cả tư bản của giai cấp tư sản, để tập trung mọi công cụ sản xuất vào tay nhà nước, tức là vào tay của giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị...” (Marx-Engels, 1848, Tuyên ngôn Cộng sản, chương II). Trong khi đó Marx đã không nêu rõ, con đường nào dẫn đến việc tất cả các tư liệu sản xuất tập trung hoàn toàn vào trong tay nhà nước, và ông cũng chẳng làm rõ các hình thức định chế của chế độ công hữu.

Ngần đó là chắc chắn rằng Marx đã có lập trường vững chắc và dứt khoát về vấn đề sở hữu. Tuyên ngôn Cộng sản đã đánh giá cao vai trò tiến bộ của chủ nghĩa tư bản sơ khai trong việc quét sạch những tàn dư phong kiến của xã hội. Thế nhưng thời gian đã vượt quá giai đoạn này rồi, và các nhà tư bản đã trở thành các chướng ngại của tiến bộ. Trong khía cạnh này, Marx đã không đưa ra sự phân biệt giữa các nhà tư bản lớn và nhỏ, đơn giản ông đã muốn thoát khỏi chủ nghĩa tư bản vì lợi ích của một hệ thống mới hiệu quả hơn.

Cơ cấu điều phối. Marx đã hiến dâng ba cuốn đồ sộ của bộ Tư bản cho việc nghiên cứu nền kinh tế thị trường. Mối quan tâm khoa học của ông tập trung vào việc để ông hiểu thị trường hoạt động như thế nào. Nhận xét tổng kết của ông đối lập gay gắt với lập trường của Adam Smith một bậc tiền bối mà ông ngưỡng mộ. Smith kính trọng sâu sắc thành tích không thể tin nổi của “bàn tay vô hình”. Hàng triệu người ra quyết định phân tán, không được phối hợp cuối cùng lại dẫn đến chỗ nền kinh tế đi vào trạng thái cân bằng. Kết quả này không được Marx thích. Ngược lại, ông nhìn thấy sự biểu hiện đặc sắc của tình trạng vô chính phủ trong thị trường. Ông đã không nghiên cứu cẩn thận vấn đề tính hiệu quả, mà hầu như linh cảm một cách tự phát, ông đi đến kết luận rằng hoạt động của thị trường dẫn đến lãng phí.

Các tư tưởng của ông liên quan đến chủ nghĩa xã hội – hệt như những hình dung của ông về chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội – có thể được tái hiện bằng cách tiếp cận phủ định. Cơ chế điều phối của chủ nghĩa xã hội không thể là cái gì khác, mà là cái ngược lại của cơ chế hoạt động trong chủ nghĩa tư bản. Nếu cái cơ chế đó là phi duy lý – thì sự điều phối phải là duy lý trong chủ nghĩa xã hội. Sự phân bổ có ý thức và hợp lý của lực lượng sản xuất và thời gian lao động sẽ xảy ra. Theo thói quen của mình, Marx đã không vạch ra quy tắc hoạt động của kế hoạch hoá tập trung, thế nhưng những hình dung của ông về phân bổ hợp lý ăn khớp với kế hoạch hoá tập trung, và không phù hợp với thị trường.

Thị trường, với tư cách là cơ chế điều phối chính của hệ thống xã hội chủ nghĩa tương lai, là một tư tưởng phản-marxist quyết liệt. Không chỉ xa lạ với các lời nói của Marx, mà – và điều này quan trọng hơn – còn xa lạ với tinh thần thấu suốt Marx khi ông đối sánh chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội.

Hệ tư tưởng. Marx là một trong những nhà khoa học xã hội đầu tiên nhận ra vai trò quan trọng của hệ tư tưởng. Trong lúc đó, bản thân ông lại không đòi vai trò và vầng hào quang của nhà tiên tri cho mình. Có lẽ ông sẽ trở nên bối rối, giả như ông nhìn thấy các nhóm khác nhau làm gì dưới ngọn cờ chủ nghĩa Marx một trăm năm sau. Ông đã thử tìm cách hiểu hệ tư tưởng của chủ nghĩa tư bản, nhưng ông đã không vạch ra hệ tư tưởng mới cho chủ nghĩa xã hội.

2. Giải nghĩa thứ hai. Quan niệm walrasian về chủ nghĩa xã hội

Cách giải nghĩa này được phát triển trong môi trường bình yên của thế giới hàn lâm. Người tiên phong đầu tiên, dựng lên cái lâu đài tư duy có tên “lý thuyết chủ nghĩa xã hội” trong lịch sử trí tuệ của kinh tế học, là một nhà kinh tế học Ý, Enrico Barone – học trò của Pareto. Tuy các công trình ban đầu cũng tạo được tiếng vang nào đó trong giới kinh tế học, nhưng nghiên cứu mang lại sự đột phá thực sự là nghiên cứu của nhà kinh tế học Ba Lan, Oscar Lange, người đã phát triển lý thuyết chủ nghĩa xã hội riêng của mình. Muộn hơn, vài nhà kinh tế học khác đã tiếp tục phát triển, diễn đạt chi tiết các tư tưởng của Lange; trước hết là Abba Lerner, trong cuốn sách Economics of Control có ảnh hưởng lớn của ông (Lerner, 1946). Để trình bày một cách súc tích tôi chỉ giới hạn ở thảo luận lý thuyết của Lange.

Mô hình của Oscar Lange ăn khớp chặt chẽ với khung khổ lý thuyết của kinh tế học walrasian (Lange, 1936-1937). Thật ra nó không khác sự áp dụng đặc biệt của lý thuyết cân bằng chung mà Leon Walras là người tiên phong và muộn hơn được Arrow, Debreu và các nhà nghiên cứu lý thuyết đương đại khác đưa lên đỉnh điểm trong các công trình của họ. Không hợp lý ở đây đi trình bày toàn bộ dòng tư duy, bởi vì đề tài của chúng ta chỉ là giải nghĩa thuật ngữ chủ nghĩa xã hội.

Trong thế giới mô hình của Lange khái niệm chủ nghĩa xã hội có nghĩa là công hữu – và không gì khác. Đây là điều kiện cần và đủ để hệ thống nào đó được gọi là chủ nghĩa xã hội [trong lý thuyết này]. Tôi khuyến nghị bạn đọc hãy đọc lại tiểu luận của Lange. Không tìm thấy trong đó một từ duy nhất nào về quyền lực, về cơ cấu của chế độ chính trị, về hệ tư tưởng. Chỉ có chế độ công hữu là có ý nghĩa.

Oscar Lange đã không làm rõ bên trong toàn thể các quyền sở hữu thì vị trí chính xác của công hữu là gì. Liệu khu vực công hữu chỉ là một phần của nền kinh tế? Nó chiếm phần ưu thế hay toàn bộ nền kinh tế? Nghiên cứu của Lange ngầm áp dụng giả thiết sau đây: hoặc tất cả tư bản sản xuất, hay chí ít một phần áp đảo của nó thuộc sở hữu công. Có lẽ cũng có thể giải nghĩa giả thiết ngầm thế này: khu vực công hữu có thể được cách ly hoàn hảo khỏi các phần khác của nền kinh tế.

Hãy nhảy qua các bước trung gian, và quy giản nội dung thành kết luận cuối cùng!  “Chủ nghĩa xã hội thị trường” của Oscar Lange là một nền kinh tế dựa trên sở hữu công và do thị trường điều phối. “Chủ nghĩa xã hội” và thị trường – theo Lange hai hình thái kết cấu-định chế này phù hợp với nhau.

Mô hình Lange khuấy lên cơn bão lớn. Nó bị tấn công trong hai chiến dịch. Sự bác bỏ đầu tiên được đưa ra trong tiểu luận xuất sắc của Friedrich von Hayek (Hayek, 1935). Lập luận chính của Hayek là: không thể thu thập, chứa và sử dụng khối thông tin và kiến thức khổng lồ cần thiết trong một trung tâm duy nhất. Không thể thiếu các khuyến khích phân tán để thúc đẩy việc tích tụ và sử dụng thông tin và kiến thức. Thị trường và sở hữu tư nhân tạo ra những khuyến khích này và kết hợp các khuyến khích và thông tin một cách tự động.

Làn sóng tấn công thứ hai nổ ra trong mối liên hệ với cải cách của các nền kinh tế Xô Viết và xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Lập luận của Hayek về các khuyến khích và thông tin được trụ đỡ bằng các bằng chứng kinh nghiệm. Công trình riêng của tôi được cảm hứng từ kinh nghiệm cải cách, đã cung cấp các lập luận thêm để bác bỏ lý thuyết của Lange. Rất ít có khả năng để tạo ra một cách thành công các khuyến khích mạnh nhằm tối thiểu hoá chi phí hay tối đa hoá lợi nhuận trong doanh nghiệp thuộc sở hữu công có ràng buộc ngân sách mềm. (Lý thuyết Lange cho rằng hoạt động của các loại khuyến khích mạnh như vậy là có thể thực hiện được mà không có khó khăn gì).

Thực ra, là không thể để gắn kết một cấu trúc-quyền sở hữu được chọn một cách tùy tiện với một cơ chế điều phối được chọn một cách tùy tiện. Có ái lực chặt giữa các hình thức sở hữu nhất định và các cơ chế điều phối nhất định. Thị trường phân tán và sở hữu tư nhân gắn bó với nhau.

Một lập luận khác liên quan đến lĩnh vực chính trị và hệ tư tưởng: hoạt động trơn tru, không vướng mắc của thị trường phụ thuộc vào “bầu không khí', đòi hỏi môi trường thân thiện với thị trường. Nếu các chính trị gia chỉ huy đất nước là những kẻ thù không đội trời chung của phân quyền, thì thị trường bị họ đày vào nền kinh tế đen và xám, và nó không thể trở thành cơ chế điều phối và tích hợp chính của các hoạt động kinh tế.[5]

Sau khi sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, đây đó đã xuất hiện các tư tưởng chủ nghĩa xã hội thị trường, cùng với những hình dung về “con đường thứ ba” khác. Thế nhưng những kiến nghị này đã bị bác bỏ một cách cương quyết.

Trong những phần tiếp theo chúng ta hãy rời khỏi các cuộc tranh luận hàn lâm, và ngó một chút vào  lich sử chính trị! Đã xảy ra sự chia rẽ đau đớn trong phong trào xã hội chủ nghĩa vào thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hai phong trào chính trị, hai cương lĩnh, hai hệ tư tưởng đã tách ra khỏi nhau. Và không chỉ đã tách ra khỏi nhau, mà còn bắt đầu đấu tranh với nhau, ở một số nơi và một số thời kỳ với những hệ quả đáng buồn, thậm chí, bi thảm trong từng trường hợp.


Chú thích

*Tôi cảm ơn sự hợp tác có giá trị của Yingyi Quian và Schönner Ágnes. [Tiểu luận này “Piaci Szocializmus? Szocialista piacgazdaság?” là tiểu luận thứ ba trong cuốn Szocializmus, kapitalizmus, demokrácia és rendszerváltás (Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, dân chủ và thay đổi hệ thống), Akadémiai Kiadó, 2007 (tr.50-61). Phần đầu của chú thích này và các chú thích đánh số là của tác giả, tất các các chú thích khác đánh dấu * là của người dịch, Nguyễn Quang A].

 

[1]  Thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội thị trường” (market socialism) – như tiểu luận sẽ giới thiệu – là khái niệm xuất hiện trong giới các nhà kinh tế học hàn lâm. Công thức “nền kinh tế thị trường XHCN” là tên gọi quen thuộc trong từ điển ý thức hệ chính thức của Trung Quốc.

 

[2]  Phần lớn các sách giáo khoa và từ điển kinh tế học cho một mô tả cô đọng về khái niệm “thị trường”, và sự phân loại đa dạng của thị trường. Xem, thí dụ: Mankiw (2001) hay Samuelson-Nordhaus (1997). Ỏ đây và các phần sau của tiểu luận tôi dùng khung khổ khái niệm của cuốn Hệ thống xã hội chủ nghĩa của tôi (Kornai, 2002).

 

[3]  Trong hội nghị tổ chức tại Hồng Kông năm 2004, mà phiên bản trước của tiểu luận này được trình bày, đã có nhiều nhà kinh tế học và các nhà khoa học xã hội khác của Trung Quốc và Việt Nam tham dự. Vì thế tôi đã cho là quan trọng để đưa ra tại hội nghị đó lời nhận xét sau đây của mình. Tôi trích nguyên văn những điều đã nói ở đó về nhận xét này: “Tôi hiểu rằng một bộ phận các đồng nghiệp của chúng ta phải chú ý đến những cân nhắc chiến thuật, và không thể nói thẳng hoàn toàn, mà có thể cho rằng hữu dụng hơn nếu họ lảng tránh các định nghĩa được xác định rõ ràng. Tình hình cá nhân tôi thì dễ hơn. Vì thế, xin các vị cho phép tôi gạt sang bên các quan điểm “ngoại giao” và đối mặt với các vấn đề thực”.

 

*    Cách tiếp cận phủ định (negative approach) vạch ra các đặc trưng mà hệ thống không (nên) có, khác với cách tiếp cận khẳng định (positive) nêu ra các đặc tính hiện diện.

 

[4]  Marx và Engels ngay trong Tuyên ngôn Cộng sản đã viết rằng sau cách mạng thắng lợi giai cấp vô sản chiếm lấy “sự thống trị chính trị”. Muộn hơn Engels đã diễn đạt lập trường marxist như thế này, “...cần đến hành động chính trị và chế độ chuyên chế của giai cấp vô sản như cái quá độ dẫn đến việc thủ tiêu các giai cấp và cùng với chúng là thủ tiêu nhà nước...” (Engels, 1872, 1969, tr. 252). Lenin đã hết sức nhấn mạnh lời trích của Marx và Engels trong tác phẩm nổi tiếng của mình, trong Nhà nước và Cách mạng, tác phẩm đã đặt cơ sở cho sự khởi thảo học thuyết leninist về nhà nước và chuyên chế. Lenin đã muốn chứng minh sự liên tục lý luận giữa các tư tưởng xây dựng nền chuyên chế của Marx, Engels và các tư tưởng riêng của ông liên quan đến xây dựng nền chuyên chế và vứt bỏ nền dân chủ đại nghị (Lenin, 1917, 1973).

 

[5] Bardhan-Romer (chủ biên, 1993) cho một tổng quan rộng về cuộc tranh luận hiện thời về “chủ nghĩa xã hội thị trường”. Kornai (1993) tóm tắt những nhận xét phê phán riêng của tôi.