Thật vô nghĩa khi lý luận rằng ít nhất sự hạn chế sản xuất cũng làm tăng giá nông sản và “nông dân có thêm sức mua”. Lượng sức mua họ có thêm chính là lượng sức mua bị lấy đi từ người tiêu dùng trong thành phố. (Chúng ta đã đề cập đến điều này khi phân tích về mức giá tương đương.) Việc chính phủ cho nông dân tiền để giúp họ hạn chế sản xuất hoặc cung cấp cho họ cùng một lượng tiền để đổi lấy một lượng nông sản ít hơn cũng giống như việc chính phủ bắt người tiêu dùng hoặc người nộp thuế trả tiền cho những người ăn không ngồi rồi. Trong cả hai trường hợp, những người được hưởng lợi từ chính sách này sẽ có thêm “sức mua”, song sẽ có những người khác mất đi lượng sức mua tương đương. Thiệt hại cuối cùng đối với xã hội sẽ là thiệt hại về sản xuất, bởi vì có một số người được hỗ trợ để không sản xuất. Vì có ít hàng hóa hơn để phục vụ cho tiêu dùng trong xã hội, mức lương thật và thu nhập thật sẽ giảm do thu nhập tính ra tiền giảm hoặc do chi phí đời sống tăng.

 

Song nếu chính phủ cố gắng giữ giá một mặt hàng nông sản nào đó và không quy định hạn chế sản lượng, lượng hàng hóa dư thừa không bán được do giá quá cao sẽ ngày càng lớn, cho đến khi thị trường của mặt hàng nông sản đó sẽ bị sụp đổ ở mức độ nặng nề hơn nhiều so với trường hợp không áp dụng chính sách kiểm soát từ đầu. Hoặc là các nhà sản xuất không chịu sự quản lý của các chính sách này sẽ lợi dụng việc tăng giá và tăng sản lượng của mình lên rất cao. Đây là điều đã xảy ra đối với chương trình hạn chế sản lượng cao su tại Anh và chương trình hạn chế sản lượng bông tại Mỹ. Trong bất kỳ trường hợp nào, giá của mặt hàng này sau đó sẽ bị tụt một cách thảm hại và trở nên thấp hơn nhiều so với bình thường. Kế hoạch của chính phủ nhằm “bình ổn” giá và các điều kiện trên thị trường sẽ khiến cho thị trường bất ổn hơn rất nhiều so với điều mà các động lực tự do trên thị trường có thể gây ra.

 

Thế nhưng những chính sách kiểm soát hàng hóa trên quy mô quốc tế vẫn thường xuyên được đề xuất. Lần này, họ nói rằng họ sẽ tránh được những sai lầm cũ. Lần này họ sẽ cố định giá ở một mức “công bằng” đối với cả nhà sản xuất và người tiêu dùng. Các quốc gia sản xuất và quốc gia tiêu dùng sẽ biết điều và thỏa thuận với nhau để đưa ra các mức giá công bằng này. Các mức giá cố định chắc chắn sẽ dẫn đến việc phân chia và phân bổ một cách công bằng sản xuất và tiêu dùng giữa các quốc gia, và chỉ những kẻ theo chủ nghĩa hoài nghi mới cho rằng sẽ có những tranh chấp quốc tế xuất phát từ điều này. Và cuối cùng, bởi một phép lạ vĩ đại nhất, cái thế giới tràn đầy những sự kiểm soát và ép buộc trên quy mô quốc tế ấy sẽ trở thành một thế giới thương mại quốc tế “tự do”!

 

Tôi không hiểu các nhà hoạch định chính sách của chính phủ muốn nói gì khi đề cập đến thương mại tự do trong trường hợp này, song tôi biết rõ điều họ không quan tâm đến. Họ không quan tâm đến quyền tự do của những con người bình thường trong việc mua bán hay vay mượn ở bất kỳ mức giá nào người ta thích và bất kỳ khi nào người ta cảm thấy có lợi. Họ không quan tâm đến quyền tự do của một thường dân  trong việc sản xuất ra một sản phẩm nào đó với sản lượng mình muốn, trong việc sản xuất hay ngừng sản xuất, trong việc sử dụng vốn và các tài sản khác của mình theo quyết định của mình. Tôi cho rằng điều họ quan tâm đến là quyền tự do của các nhà quản lý kinh tế của nhà nước trong việc quyết định những vấn đề này thay cho những thường dân. Và họ hứa hẹn với những người dân này rằng mức sống sẽ được cải thiện nếu ngoan ngoãn tuân theo các nhà quản lý kinh tế. Song nếu những người hoạch định chính sách thành công trong việc gắn kết ý tưởng về hợp tác quốc tế với ý tưởng về sự tăng cường sự kiểm soát và thống trị của chính phủ trong đời sống kinh tế, kiểm soát trên phạm vi quốc tế trong tương lai dường như sẽ tiếp tục đi theo con đường nó đã đi trong quá khứ, con đường dẫn đến sự suy giảm mức sống và quyền tự do của những thường dân. 

(Hết phần 3)

 

Nguồn: Hiểu kinh tế trong một bài học, Nhóm Dịch giả: Phạm Việt Anh (dịch), Đinh Tuấn Minh (hiệu đính và giới thiệu)