Tình hình sẽ thay đổi khi chính phủ bước vào và mua toàn bộ nông sản của nông dân hoặc cho họ vay tiền để giữ lại lượng nông sản của họ. Điều này đôi khi được làm với một lý do dường như rất chính đáng: nhằm duy trì “kho lương thực ổn định”. Thế nhưng lịch sử của giá cả và lượng lương thực được lưu chuyển qua năm cho ta thấy chức năng này đã được đảm nhiệm rất tốt bởi các thị trường tư nhân tự do. Khi chính phủ can thiệp vào, “kho lương thực ổn định” trở thành một công cụ chính trị. Người nông dân được giúp đỡ, với khoản tiền từ những người nộp thuế, để giữ lại nông sản của mình một cách quá mức. Bởi họ muốn có được sự ủng hộ của nông dân, các chính trị gia (người đưa ra các chính sách này) hay các nhà quản lý kinh tế (người thực hiện các chính sách này) luôn đặt mức giá đối với nông sản ở mức cao hơn so với mức giá được đưa ra bởi tình hình cung cầu trên thị trường. Điều này làm giảm sô lượng người mua hàng. “Kho lương thực ổn định” vì thế thường có xu hướng trở thành kho lương thực bất bình thường. Các lượng nông sản lớn bị giữ không đem ra bán tại thị trường. Việc này sẽ tạo ra một mức giá tạm thời cao hơn bình thường, song khi ta làm vậy, hậu quả về sau thường là sự xuất hiện của một mức giá thấp nhiều so với mức giá bình thường của thị trường, bởi vì sự khan hiếm được tạo ra trong năm nay bằng cách giữ lại một phần nông sản sẽ tạo ra một sự dư thừa cho năm sau.

 

Có lẽ chúng ta sẽ đi lạc đề nếu xem xét cụ thể điều gì đã xảy ra khi chính sách này được áp dụng vào thực tế, chẳng hạn thị trường bông của Mỹ. Chúng ta giữ lại một lượng bông tương đương với sản lượng của cả một năm trong các kho chứa. Chúng ta đã phá hủy các thị trường nước ngoài của sản phẩm bông của chúng ta và khuyến khích việc sản xuất bông ở các nước khác. Mặc dù những người phản đối chính sách hạn chế và cho vay của chính phủ đã dự đoán từ trước những hậu quả này, khi chúng thực sự xảy ra, các nhà quản lý kinh tế chịu trách nhiệm thản nhiên trả lời rằng đây là điều sớm muộn cũng xảy ra.

 

Chính sách cho vay thường đi kèm với, hoặc sớm muộn cũng dẫn đến, chính sách hạn chế sản xuất, hay chính sách gây khan hiếm. Hầu như trong mọi nỗ lực “bình ổn” giá của một mặt hàng nào đó, lợi ích của người sản xuất luôn được đặt lên đầu. Mục tiêu thực sự là tạo ra một sự tăng giá ngay lập tức. Để đạt được điều này, một sự hạn chế tương đương về sản lượng sẽ được quy định đối với các nhà sản xuất chịu sự quản lý của chính sách. Điều này sẽ gây ra ngay lập tức một số tác động tiêu cực. Nếu chính sách kiểm soát có thể được áp dụng trên quy mô quốc tế, tổng sản lượng của thế giới sẽ bị cắt giảm. Người tiêu dùng trên thế giới sẽ có ít sản phẩm để sử dụng hơn so với trường hợp không có chính sách này. Thế giới sẽ bị nghèo đi một lượng tương đương. Bởi người tiêu dùng bị bắt buộc phải trả mức giá cao hơn bình thường, sức mua của họ đối với các sản phẩm khác sẽ giảm đi một lượng tương đương.

*   *

*

Những người ủng hộ việc hạn chế sản xuất thường đáp lại rằng trong nền kinh tế thị trường, việc giảm sản lượng sớm muộn cũng sẽ xảy ra. Song ở đây có một sự khác biệt cơ bản, như chúng ta đã xem xét trong chương trước. Trong nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh, việc giảm giá sẽ khiến những nhà sản xuất có mức chi phí cao và hiệu suất thấp phải ngừng sản xuất. Ví dụ như với nông sản, những nông dân phải ngừng sản xuất sẽ là những người có năng suất thấp nhất hoặc trang thiết bị kém nhất hoặc canh tác trên đất xấu. Những nông dân có năng suất cao và canh tác trên đất tốt sẽ không phải hạn chế hoạt động sản xuất của mình. Không những thế, nếu việc giảm giá là dấu hiệu của việc giảm chi phí sản xuất bình quân, được thể hiện thông qua việc các nguồn cung cấp được tăng lên, khi đó, việc các nông dân có năng suất thấp và canh tác trên đất xấu phải ngừng sản xuất sẽ giúp các nông dân có năng suất cao và canh tác trên đất tốt mở rộng hoạt động sản xuất của mình. Vì thế, về lâu dài, sản lượng của loại hàng hóa đó có thể sẽ không bị giảm, và hàng hóa này lúc đó sẽ được sản xuất và bán ở một mức giá thấp vĩnh viễn.

 

Nếu điều này xảy ra, những người tiêu dùng loại hàng hóa đó vẫn được cung cấp một lượng hàng hóa nhiều như trước đây. Nhưng nhờ mức giá thấp hơn, họ sẽ có dư một khoản tiền, điều trước đây không xảy ra, để mua các hàng hóa khác. Vì vậy, người tiêu dùng chắc chắn sẽ có lợi. Sự tăng chi tiêu của người tiêu dùng trong các ngành sản xuất khác sẽ làm tăng lượng việc làm trong các ngành này, và chúng sẽ thu hút những người nông dân có năng suất thấp đã phải ngừng sản xuất vào những ngành sản xuất mới, nơi họ có thể làm việc với hiệu năng và thu nhập cao hơn.

 

Một sự hạn chế sản xuất áp dụng đồng đều theo tỷ lệ (để quay lại đề tài về những chính sách can thiệp của chính phủ) một mặt nghĩa là các nhà sản xuất có hiệu suất cao và chi phí sản xuất thấp không được phép sản xuất ra sản lượng mà họ có thể tạo ra ở mức giá thấp đó. Mặt khác, nó cũng có nghĩa là các nhà sản xuất có hiệu suất thấp và chi phí sản xuất cao vẫn được giúp để duy trì hoạt động sản xuất của họ. Điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất bình quân của sản phẩm. Nó sẽ được sản xuất với hiệu suất thấp hơn. Những nhà sản xuất có hiệu suất thấp được giúp để tồn tại trong ngành sẽ vẫn sử dụng đất đai, lao động và vốn mà đáng nhẽ có thể được sử dụng theo những cách khác để đem lại nhiều lợi nhuận hơn. 

(Hết phần 2)

 

Nguồn: Hiểu kinh tế trong một bài học, Nhóm Dịch giả: Phạm Việt Anh (dịch), Đinh Tuấn Minh (hiệu đính và giới thiệu)